Chương 26: Đơn thuốc chín vị
– Cô định luyện thuốc cho người ta ngủ trên cái nắp. – Khải nói.
– Em định luyện thuốc cho người ta thức dậy. – Nhen nói.
Đêm mười một tháng Mười, ba người ngồi quanh bếp lửa ở Am Lò Nghiêng: Nhen, Khải, Kẽm. Kẽm vừa từ núi Đe về, hai bàn tay còn rộp vì ba đêm lén rèn cái khớp xoay trong xưởng sau. Cái bát vỡ vẫn nằm trên bậc đá ở cửa, hai nửa ghép vào nhau. Không ai đụng tới nó.
Nhen kể cái giá Mục Trường Thanh đưa ra. Kể Định Tinh Đan, kể chín người ngủ trên nắp, kể sư phụ sẽ được thả. Khải nghe xong ném que củi vào lửa mạnh tới mức tàn bay tung lên mái.
– Ông ta mua cô bằng bà già. – Cậu ta nói.
– Dạ. – Nhen nói. – Mà muốn vô được đan phòng của họ thì em phải để ông ấy mua.
Cô đã nghĩ suốt từ hôm qua. Ngồi ở mỏm đá phía đông mà nghĩ, đứng bên giếng Lạnh mà nghĩ. Ngọc Đài uống Ôn Dưỡng Đan mỗi tối. Tám người khác cũng vậy. Ở ngoài này, cô chỉ có cái vòng văn ngược nhìn qua kính một lần, và một người không tin cô. Ở trong đó, cô có lò, có dược, có đơn thuốc của chính họ. Đan sư muốn chữa một thứ thuốc độc thì phải biết nó được luyện ra thế nào.
– Ông ấy nói cửa không đóng. – Cô nói. – Em đi vô.
Kẽm gãi đầu bên trái, rồi không nói gì.
Đan phòng Thiên Thăng Các nằm ở dãy phía đông, dài như một dãy chuồng ngựa, mái trắng, vách đá trắng. Bên trong có ba mươi cái lò đồng giống hệt nhau xếp thành ba hàng, cái nào cũng sáng bóng, chạm hoa văn mây. Hai mươi đan sư áo trắng đứng lò, im lặng như người làm việc trong một cái kho lạnh. Không ai cười. Không ai chửi lửa. Lửa trong lò của họ là Bạch Hỏa, lõi trắng viền xanh nhạt, đều tăm tắp.
Người được giao dẫn Nhen là bà Tào Dung, đan sư trưởng, ngoài hai trăm tuổi, mặt dài, tay áo xắn cao để lộ hai cánh tay đầy những đốm trắng như sáp. Bà đưa cho Nhen một tờ giấy lụa.
– Đơn Định Tinh. – Bà nói. – Chín vị. Các chủ nói cô luyện ra chín vòng. Ở đây chưa ai làm được. Cô làm được thì cô dạy chúng tôi.
Nhen đọc đơn.
Hỏa Linh Chi trăm năm. Băng Tâm Liên. Hạt sen già. Mật ong rừng. Sáp ong núi. Tro Cổ. Bột hạt cườm trời. Rễ Tỏa Mạch.
Vị thứ chín ghi: một đốm Bạch Hỏa, mồi vào lúc ngưng đan.
Cô đọc tới rễ Tỏa Mạch thì dừng lại. Cái thứ rễ Khải mua ba lạng ở tiệm họ Nghiêm. Uống vào thì kinh mạch co lại, linh lực tắc như cống nghẹt rác.
– Rễ Tỏa Mạch để làm gì vậy bà? – Cô hỏi.
– Để giữ. – Bà Tào Dung nói, như nói một điều ai cũng biết. – Lửa của người được chọn phải giữ lại trong người. Ôn Dưỡng Đan đóng cửa từ ngoài. Định Tinh Đan khóa từ trong. Lên tới Thượng Giới, người tiếp dẫn mới mở ra.
– Người tiếp dẫn.
– Thượng Giới. – Bà Tào Dung nói, và lần đầu tiên mặt bà có chút gì như sáng lên. – Tôi luyện Ôn Dưỡng Đan bốn mươi năm, tiễn bốn người. Cô biết không, người nào uống đủ Ôn Dưỡng thì trước ngày lễ một tháng sẽ tỏa ra một làn ánh lửa nhạt quanh người. Như tiên. Đó là lúc biết họ sẵn sàng.
Nhen nhìn bà, nhìn hai cánh tay đầy đốm trắng, nhìn đôi mắt sáng lên ấy. Bà ấy tin, cô nghĩ. Bà ấy luyện bốn mươi năm cái thứ thuốc đóng cửa người ta lại, và bà ấy tin.
– Dạ. – Cô nói.
Mùa đông năm ấy cô ở Vọng Thiên nhiều hơn ở Vân Lô.
Cô ngự kiếm qua lại mười ngày một lần, thanh kiếm xấu của Kẽm giờ đã ngoan dưới chân cô như cái xuồng quen nước. Ở Vọng Thiên, người ta cho cô một gian phòng nhỏ cạnh đan phòng, một cái lò đồng riêng, một tủ dược đủ chín vị. Cô luyện. Cô cố ý luyện chậm. Mẻ đầu ra sáu vòng. Mẻ thứ hai bảy. Tháng Chạp được tám. Mỗi mẻ bà Tào Dung đều đem lên cho Các chủ xem. Mỗi lần Các chủ đều gật đầu, nói cứ từ từ, còn lâu mới tới Đông chí.
Mỗi lần cô hỏi gặp sư phụ, ông đều nói một câu.
– Đan xong.
Mỗi sáng ở Vọng Thiên, cô ra bức tường phía đông lúc mặt trời mọc, áp kính lên mắt, coi lửa. Như sư phụ dặn. Thanh ghi thứ ba bên trái tối dần, rồi tới thanh thứ tư. Sang xuân thì mặt trời giữa trưa mờ đi, nhìn bằng mắt trần cũng thấy, như có ai phủ một lớp vải màn mỏng lên. Nông dân dưới chân núi bảo năm nay nắng yếu, lúa trổ muộn. Ông già bán than ở trấn Khói bảo năm Lửa Hạ trước cũng vậy, mờ dần từ đầu năm.
Ban đêm, khi đan phòng đã tắt lò, cô ở lại một mình. Cô luyện một thứ thuốc không có trong đơn.
Ôn Dưỡng Đan đóng cửa bằng một cái vỏ ép cứng từ bậc đầu, vòng ngoài hẹp, ruột rộng. Muốn mở ra mà không làm người ta vỡ, thì không thể đập vỏ. Phải để cái vỏ mềm ra từ từ, từng bậc một, để cái nóng bị nhốt bên trong thoát ra một chút, rồi một chút nữa. Như mở cửa gió lò ủ, mỗi ngày hé thêm một sợi chỉ.
Cô lấy chính chín vị trong đơn, bỏ rễ Tỏa Mạch, bỏ Bạch Hỏa. Cô thay vào đó nước giếng Lạnh mang lên trong ống tre, và rễ cỏ ngọt, thứ rễ hiền nhất mà một đứa học việc nào cũng biết. Cô luyện nó bằng than, không dùng Bạch Hỏa. Cô hạ lửa chín bậc như đêm mùng sáu tháng Hai, vòng ngoài rộng, vòng trong hẹp. Vòng thật.
Cô không có ai để thử. Cô thử bằng lò. Cô nặn mấy viên đất sét nhỏ, tẩm bột Ôn Dưỡng Đan, nung trong lò cho tới khi chúng giữ nóng tới mức thả vào chậu nước vẫn còn sôi lăn tăn nửa nén hương. Rồi cô thả viên thuốc của mình vào chậu. Viên đất sét nguội dần. Không nứt. Từ từ, đều đều, như cái bình lưu ly ra khỏi lò ủ sau chín ngày.
Cô đặt tên cho nó là Thoái Hỏa Đan. Cô giấu nó trong đáy ống tre đựng nước.
Mùa xuân, cô thuộc tên tám người còn lại.
Thằng nhỏ cửa sông Mân tên là Bùi Lưới, mười bảy tuổi, thiên linh căn kim, nhà đánh cá. Nó đã mập ra, má đỏ au, đêm nào cũng ngồi bên hồ nước ấm kể chuyện bắt cá đuối cho mấy người kia nghe. Một con bé mười chín tuổi từ núi phía nam tên Lò Thị Sương, thiên linh căn thủy, nói giọng lơ lớ, hay ngồi một mình gấp chim bằng lá chuối. Một thằng con nhà làm gạch ở phủ Bến Đá tên Đinh Ngói, hai mươi hai tuổi, thiên linh căn thổ, cao to, lầm lì, chiều nào cũng tập quyền một mình ở góc sân.
Không ai trong chín người biết Nhen là ai, trừ Ngọc Đài. Họ tưởng cô là đan sư trẻ của Thiên Thăng Các, tới coi mạch.
Có một tối Bùi Lưới chìa cổ tay ra cho cô bắt mạch, rồi không chịu rút về.
– Chị đan sư. – Nó nói nhỏ, mắt liếc về phía cổng viện. – Trên Thượng Giới có sông không chị?
– Sao em hỏi vậy?
– Em hông biết làm gì khác ngoài đánh cá. – Nó gãi gáy. – Má em dặn lên đó ráng học. Mà em sợ trên đó không có nước, em ngồi không. Ngồi không em chịu hông nổi.
Mạch nó nhảy nhanh và nóng, như nước trong nồi sắp sôi. Nhen giữ hai ngón tay trên cổ tay nó lâu hơn cần thiết.
– Chị không biết. – Cô nói. – Chị chưa lên đó bao giờ.
– Vậy chừng nào chị lên thì chị coi giùm em nghen. – Nó cười, hàm răng trắng ởn trên cái mặt đen nhẻm. – Có sông thì chị nhắn em đem lưới theo.
Đêm đó về phòng, Nhen ngồi trước cái lò đồng nguội tới gà gáy. Sáng ra cô mở ống tre, dốc ra lòng bàn tay mấy viên Thoái Hỏa giấu dưới đáy, đếm. Ba viên. Chín người.
Ngọc Đài kết đan vào tháng Ba.
Cô ta kết đan trong một đêm, ngồi bên hồ nước, không cần hộ pháp. Sáng ra, cả Viện Ôn Dưỡng ngửi thấy mùi khét. Đuôi tóc Ngọc Đài xoăn tít, cháy sém, cô ta phải cắt đi một gang tay. Cô ta khoe với Nhen viên kim đan trong bụng mình, nóng tới mức Nhen đặt tay lên lưng cô ta mà rát cả lòng bàn tay.
– Ở Vân Lô ta phải đợi tới năm ba mươi. – Ngọc Đài nói. – Ở đây ta kết đan năm hai mươi lăm. Ngươi còn bảo ta đừng uống.
Nhen không nói gì.
Họ ngồi với nhau nhiều buổi tối. Không nói chuyện đèn, không nói chuyện nắp. Ngọc Đài kể chuyện tiệm thuốc nhà mình, cha cô ta vừa mua thêm hai cái tủ trăm ngăn, đóng mới tấm biển, sơn lại chữ "thị". Nhen kể chuyện Kẽm lén rèn đồ trong xưởng người ta. Ngọc Đài cười. Cô ta cười nhiều hơn hồi ở Vân Lô. Có một tối, cô ta lấy dải lụa đỏ buộc tóc, cột lên tóc Nhen, rồi ngồi nhìn.
– Ngươi buộc tóc xấu. – Cô ta nói. – Ba năm ta nhìn ngươi buộc bằng dây gai.
Mùa hè, có một lần Nhen thấy trưởng lão Liêm.
Cô đi ngang cái sân nhỏ có Lò Nghiêng lúc chạng vạng. Ông Liêm đứng ở đó, áo nâu đai đồng, nói chuyện với Kiều Lẫm. Ông không thấy cô. Cô nép sau cột hành lang. Cô không nghe được họ nói gì. Cô chỉ thấy Kiều Lẫm đưa cho ông một cái hộp gỗ nhỏ sơn trắng, và ông Liêm cầm cái hộp bằng hai tay, cúi đầu, như người ta nhận một món quà quá lớn.
Mùa thu, Thiên Nhãn vẫn chưa tới.
Khuất Đồng Hưng gửi thư lên ba lần, lần nào cũng nói khung đồng phải ủ lại. Lần thứ ba, Kiều Lẫm đích thân xuống núi Đe. Ông ta về, mặt trắng hơn thường ngày, nói gì đó với Các chủ ở cái sân nhỏ. Nhen thấy Các chủ chỉ gật đầu.
– Tháng Mười. – Ông nói với Kiều Lẫm. – Tháng Mười thì vẫn kịp.
Mẻ Định Tinh Đan thứ mười một của cô ra chín vòng. Cô không muốn nó ra chín vòng. Tay cô quen rồi, cô không bắt nó sai được nữa. Bà Tào Dung bê cái đĩa lên cho Các chủ coi, run run như bê một bát nước đầy.
– Đủ rồi. – Các chủ nói, nhìn viên thuốc. Ông không nhìn cô. – Mùa đông con luyện cho đủ chín viên.
Chín viên. Sau đó thì đan xong.
Chiều mười hai tháng Mười, Nhen đứng ở cổng Viện Ôn Dưỡng. Trời đã nhá nhem. Mặt trời mấy hôm nay lặn sớm, đỏ đục như hòn than sắp tàn. Bên trong viện, quanh hồ nước ấm, chín người ngồi ăn cơm tối trên những cái chiếu cói.
Cô thấy nó trước khi hiểu mình thấy gì.
Quanh người Ngọc Đài có một làn sáng. Rất nhạt, nhạt như sương sớm, chỉ thấy được trong cái chạng vạng này. Không đỏ như linh hỏa của cô ta. Nó trắng. Trắng viền xanh nhạt. Nó bám sát lấy da cô ta như một lớp áo mỏng, rung rinh theo từng hơi thở.
Bên cạnh Ngọc Đài, Bùi Lưới cũng có một làn sáng như thế, mỏng hơn. Rồi Lò Thị Sương. Rồi Đinh Ngói.
Nhen đứng im ở cổng, chân không nhấc lên được. Cô nhớ ngọn lửa ôm lấy căn nhà mái tranh ở Hẻm Thiếc. Lõi trắng như sữa, viền xanh như mặt nước đóng băng mỏng.
Có tiếng gậy trúc gõ lên đá sau lưng cô.
– Đẹp không. – Mục Trường Thanh nói khẽ. Ông đứng cạnh cô, nhìn vào trong viện. – Bà Tào Dung gọi là ánh tiên. Ta thì không gọi là gì. Ta nhìn nó mười bảy lần rồi.
Ông im một lúc.
– Còn đúng một tháng. – Ông nói.
— Hết chương 26 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe