Chương 16: Cái lò nghiêng
Nhen buộc một hòn sỏi vào đầu sợi chỉ gai, treo lên quai nắp Lò Nghiêng, chờ cho hòn sỏi thôi đung đưa, rồi lấy cục than vạch một đường lên nền đá theo đúng chỗ sợi chỉ chỉ xuống.
Đó là sáng mười tám. Cô không biết vì sao mình làm vậy. Cha cô hồi xây lò ủ mới ở Bến Cát Trắng cũng treo dây dọi, đo xem ống khói nghiêng bao nhiêu, rồi vạch lên vách. Cô làm theo thói quen của người thợ, như người ta sờ túi trước khi ra khỏi nhà.
Đường than chạy từ chân lò ra phía tây bắc, dài bằng một gang tay. Cô vạch thêm một đường nữa theo cái chân thứ ba, cái chân đã cạo lên mặt đá một vệt trắng hôm tháng Hai. Hai đường gần như song song. Cô ngồi xổm nhìn chúng một lúc, rồi đứng dậy rửa tay.
Đêm qua cô đã xuống trấn Khói tìm Kẽm.
Nó ở nhờ lò rèn ông Bảy Đe, nằm trên cái chõng tre sau bễ, ngực áo vẫn còn cái lỗ thủng hình cái đe. Thấy cô, nó ngồi dậy cười như không có chuyện gì.
– Bà khỏi nói. – Nó nói trước. – Tui biết bà định nói gì. Đừng nói. Nói ra tui khóc thì kỳ.
Cô ngồi xuống cạnh chõng.
– Ông Bảy cho tui làm thợ phụ. – Nó nói. – Ba bữa một ngày, mười đồng một tuần. Ngon lành.
– Kẽm.
– Thôi mà.
Hai đứa ngồi im nghe tiếng than nổ lách tách trong lò rèn. Một lúc sau Kẽm nói, giọng khác hẳn:
– Đêm qua, đêm trước vòng ba, ông Kiều Lẫm vô lều môn chủ. Ngồi gần một canh giờ. Ổng đi rồi môn chủ mới kêu tui vô, giao khắc chấn văn. – Nó nhìn ngọn lửa. – Môn chủ không phải người xấu đâu bà. Ổng chửi người ta suốt ngày, mà bên tui ổng nuôi mấy chục đứa mồ côi. Ổng chỉ muốn có lửa.
Nhen nhớ cái câu Mục Trường Thanh nói giữa thung lũng. Hòa điểm thì Thiên Thăng Các định.
Giờ là sáng mười tám, và cô đang đứng trong sân Am Lò Nghiêng, nhìn hai đường than trên nền đá, thì nghe tiếng chân trên dốc.
Tông chủ đi trước. Trưởng lão Liêm đi sau. Không có đệ tử nào theo, không có đuốc, không có lính Chấp Pháp. Tông chủ Vân Lô ba trăm mười hai tuổi tự mình leo mấy trăm bậc đá lên cái am vách đất ở sườn sau núi, chuyện ba năm nay Nhen chưa từng thấy.
Sư phụ ngồi trên bậc cửa, cái bát mẻ trên tay. Vết rạn đã chạy hết thành bát, mỗi lần bà rót nước vào là có một dòng nước rỉ ra theo vết rạn, nhỏ xuống áo bà. Bà vẫn uống.
– Lộ khách khanh. – Tông chủ chắp tay.
– Ngồi đi. – Bà nói. Không đứng dậy.
Tông chủ ngồi xuống một khúc gỗ trong sân. Trưởng lão Liêm đứng. Nhen đứng ở góc sân, cạnh Lò Nghiêng.
– Ừm. Bà biết ta tới vì việc gì. – Tông chủ nói.
– Biết.
– Ta không muốn ép bà. – Ông nói, giọng chậm. – Năm mươi chín năm bà ở núi này, chưa từng xin Vân Lô một đồng, chưa từng nhận một chức. Bà muốn ở thì ở, muốn đi thì đi. Cái lò là của bà, không phải của tông. – Ông dừng lại. – Nhưng Thiên Thăng Các là chủ khảo. Chủ khảo muốn xét lại kết quả thì có trăm lý do để xét lại. Vòng ba có người làm đổ dược bùn. Vòng hai có lò đổ. Họ nói một câu là sáu điểm thành không.
– Họ nói vậy à?
– Họ chưa nói. – Tông chủ nói. – Ta sống ba trăm năm rồi. Họ không cần nói.
Trưởng lão Liêm bước lên.
– Bà già. – Ông ta nói. Chưa bao giờ Nhen nghe ông gọi sư phụ như vậy trước mặt tông chủ. – Cả tông vừa đổ mồ hôi ba ngày để giữ lửa cho sáu chục năm tới. Năm sau là Ngày Lửa Hạ. Không có Hỏa Khẩu thì đan đường chết, Dược Viên chết. Một cái lò đồng cũ nghiêng ngả mà bà...
– Ông Liêm. – Sư phụ nói. Ông Liêm im bặt.
Bà uống hết bát nước. Nước rỉ ra theo vết rạn, chảy xuống cổ tay bà, nhỏ tong tong xuống bậc đá. Bà đặt cái bát lên đầu gối.
– Cho họ. – Bà nói.
Nhen tưởng mình nghe nhầm. Tông chủ cũng vậy, ông nhìn bà như nhìn một người lạ.
– Bà nói...
– Cho họ. – Bà nhắc lại. – Chỉ một điều. Người của Thiên Thăng Các tự lên đây khiêng. Đừng để đệ tử Vân Lô đụng vào nó.
– Vì sao?
– Vì nó nặng. – Bà nói. Rồi bà đứng dậy, đi vào trong nhà.
Tông chủ ngồi yên trên khúc gỗ một lúc lâu. Rồi ông đứng dậy, chắp tay vái về phía cửa nhà, vái sâu, rồi quay xuống dốc. Trưởng lão Liêm đi theo, không nhìn Nhen.
Cô đứng nhìn cái lò.
Ba năm. Ngày nào cô cũng đứng lò này. Cô thuộc từng vết lõm trên thân lò, từng vết cháy sém trên nắp, cái cảm giác lạnh buốt khi chạm tay vào nó những sáng mùa đông trước lúc nhóm lửa. Cô đã ra chín vòng trong lòng nó.
Cô đi vào nhà. Sư phụ đang ngồi bên bếp, nhìn đống tro nguội.
– Sư phụ.
– Hỏi đi.
– Sao sư phụ cho?
Bà không quay lại.
– Vì nó không phải của bà để giữ. – Bà nói. – Nó chỉ ở đây với bà một thời gian thôi.
– Nó là cái gì vậy sư phụ? – Nhen hỏi. – Sao nó cứ nghiêng?
Bà im rất lâu. Lâu tới mức Nhen tưởng bà sẽ không trả lời, như mọi lần.
– Nó nghiêng vì nó chỉ đường. – Bà nói.
– Đường đi đâu?
– Đường về.
– Về đâu?
Bà quay lại nhìn cô. Trong ánh sáng lờ mờ của gian bếp, mắt bà trông rất già, già hơn cả cái vách đất.
– Về chỗ nó được làm ra. – Bà nói.
Nhen không hỏi được gì nữa. Cô ngồi xuống bên cạnh bà. Hai thầy trò ngồi im bên bếp tro. Rồi cô nhớ ra.
– Sư phụ. Hôm Đan Thí vòng hai. Các chủ Thiên Thăng Các cúi xuống hỏi con hai câu. Câu thứ nhất là ai dạy con ủ kính chín ngày.
Bà không động.
– Câu thứ hai, ông ấy hỏi sư phụ còn uống nước bằng cái bát mẻ không.
Lần này bà động. Không nhiều. Chỉ là hai bàn tay đang đặt trên đầu gối của bà khép lại, những ngón tay khô như rễ cây co lại một chút, như người ta co tay khi chạm phải nước lạnh.
– Nó hỏi vậy à. – Bà nói.
– Dạ. Sư phụ quen Các chủ?
– Bà quen nhiều người. – Bà nói, và đứng dậy. – Sống lâu thì quen nhiều người.
Trưa mười chín, Thiên Thăng Các lên.
Năm người, áo trắng, đai bạc. Người đi đầu là Kiều Lẫm. Ông ta đi lên dốc đá mà vạt áo không vướng một cọng cỏ, dép không dính một hạt bụi, như lần ở Bến Cát Trắng. Bốn người theo sau khiêng một cái giá gỗ có đòn ngang.
Kiều Lẫm dừng lại ở cổng tre. Ông ta nhìn thấy sư phụ ngồi trên bậc cửa, và ông ta cúi xuống. Cúi rất sâu, sâu tới mức tóc búi trên đầu gần chạm đất. Bốn người phía sau nhìn nhau, rồi cúi theo.
Sư phụ không đáp lễ.
– Khiêng đi. – Bà nói.
Bốn người áo trắng bước vào sân. Họ quàng dây vào ba chân lò, xỏ đòn ngang qua quai. Họ đếm một hai ba rồi nhấc. Cái lò không nhúc nhích. Họ đếm lần nữa, lần này Nhen thấy linh lực tỏa ra từ người họ, mạnh tới mức lá thông rụng xuống rào rào. Cái lò nhổm lên được một chút, rồi nặng nề hạ xuống, một chân cạo lên mặt đá một tiếng ken két.
Kiều Lẫm bước tới. Ông ta đặt một bàn tay lên nắp lò, bàn tay có những đầu ngón trắng bệch như sáp. Ông ta không nói gì, chỉ đứng đó một lúc. Rồi ông ta gật đầu với bốn người kia.
Lần này họ nhấc được. Bốn người khiêng mà mặt đỏ tía, gân cổ nổi lên. Cái lò lắc lư trên đòn ngang, và Nhen thấy, ngay cả lúc treo lơ lửng trong không khí, nó vẫn nghiêng. Nghiêng về phía tây bắc.
Họ khiêng nó ra cổng. Kiều Lẫm đi sau cùng. Tới cổng tre, sư phụ gọi ông ta lại.
– Nói với nó. – Bà nói.
Kiều Lẫm dừng lại, quay người.
– Nói với nó, bà chưa chết. – Bà nói.
Nhen không hiểu "nó" là ai. Nhưng cô thấy mặt Kiều Lẫm trắng đi, cái trắng trơn như mặt đá của ông ta bỗng có một vệt gì như rạn. Ông ta cúi đầu một lần nữa, không nói một lời, rồi đi xuống dốc.
Cái sân trống trơn. Chỗ Lò Nghiêng đứng ba năm nay chỉ còn ba cái vết tròn sẫm màu trên nền đá, một vệt cạo trắng, và hai đường than Nhen vạch sáng hôm qua. Hai đường than đã bị bước chân người dẫm nhòe một nửa. Cô lấy than tô lại cho rõ. Cô không biết vì sao.
Đêm hai mươi, gió đổi. Gió từ Thung Ba Lửa thổi lên, ấm và khô, mang theo mùi đá nóng. Sư phụ ngồi bên chum nước như mọi tối. Nhen đang rửa mấy cái muỗng đồng dưới bếp thì nghe tiếng vỡ.
Không phải tiếng tích như những lần trước. Một tiếng choang, gọn và trong.
Cô chạy ra. Sư phụ vẫn ngồi đó, hai bàn tay vẫn đưa ra như đang bưng bát. Trong mỗi lòng bàn tay là một nửa cái bát sành mẻ. Nước đổ ướt hết vạt áo bà, chảy xuống bậc đá, loang ra dưới ánh trăng hai mươi vừa nhô khỏi rặng thông.
– Sư phụ!
Bà ngẩng lên. Rồi bà ho.
Bà ho một tràng dài, gập cả người xuống. Nhen quỳ xuống đỡ lấy vai bà. Vai bà nhẹ và nóng, nóng như hòn than bọc trong vải. Và trong tiếng ho của bà, cô thấy từ miệng bà bay ra những đốm sáng nhỏ, đỏ cam, như tàn lửa bay lên từ đống củi vừa bị khều. Mấy đốm tàn lửa bay lên trong bóng tối, chao đi, rồi tắt.
Nhen không thở được.
Bà ho xong. Bà ngồi thẳng lại, chậm rãi, đặt hai nửa bát vỡ xuống bậc đá cạnh nhau, khớp vào nhau cho thành một cái bát, như người ta xếp lại hai mảnh của một thứ vẫn còn dùng được.
– Không sao. – Bà nói. Giọng bà khàn, nhưng vẫn là giọng bà. – Bà già rồi.
– Sư phụ...
– Nghe bà nói. – Bà nắm lấy cổ tay Nhen. Bàn tay bà nóng hổi. – Sáng mai, trước khi gà gáy, con đưa bà lên Vách Tro. Mang theo hai bao tro Cổ con rây hôm trước. Mang theo cái kính.
– Lên đó làm gì?
– Con ở Luyện Khí tầng chín được bốn tháng rồi. – Bà nói. – Mai con đúc nền.
— Hết chương 16 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe