Chương 33: Hai thầy trò một bát
– Trường Thanh.
Giọng ấy không to. Nó khàn, nhỏ, như tiếng lá khô. Nhưng Mục Trường Thanh nghe thấy nó, và cái sức nóng đè xuống từ hai lòng bàn tay ông chao đi như ngọn đèn gặp gió.
Nhen quỳ trên bậc thứ mười, hai đầu gối dán xuống đá, không ngẩng đầu lên được. Cô chỉ xoay được mắt. Qua khe lan can, cô thấy cái sân đá dưới chân Thang Mây, đám đông đã dạt ra hai bên thành một lối trống. Giữa lối trống, một bà già nhỏ thó, áo nâu, tóc bạc thưa buộc một sợi vỏ cây, đang leo lên những bậc đá đầu tiên.
Bà leo chậm. Mỗi bậc bà dừng lại thở. Hai tay bà ôm trước ngực một cái gì đó gói trong khăn vải. Tới bậc thứ năm, bà ho. Một chùm tàn lửa đỏ cam bay ra khỏi miệng bà, bay lên, chao qua mặt Mục Trường Thanh rồi tắt.
Bà dừng lại ở bậc thứ tám, ngay dưới chân ông.
Ông quay lại. Hai bàn tay ông vẫn mở ra, nhưng cái sức nóng không còn đè xuống nữa. Nhen thở được. Cô chống tay ngồi dậy.
Bà Lộ cúi xuống, đặt cái khăn vải lên mặt bậc đá, mở ra. Hai nửa cái bát sành mẻ. Cái khăn Nhen dùng để gói nó mang lên Tĩnh Thất hồi tháng Mười, rồi để quên trên bàn. Bà ghép hai nửa lại với nhau, khít, như ghép trên bậc cửa Am Lò Nghiêng.
Mục Trường Thanh nhìn cái bát.
Nhen thấy mặt ông đổi. Không phải trắng đi như mặt trưởng lão Liêm ở Chấp Pháp đường. Không phải đỏ lên. Nó giãn ra, như mặt một đứa trẻ nhìn thấy một món đồ cũ trong nhà mình sau nhiều năm đi xa.
– Bà còn giữ nó. – Ông nói.
– Còn.
– Hồi đó nó chưa mẻ.
– Mẻ năm con đi. – Bà nói. – Bà làm rơi. Sáng hôm con bỏ đi, bà đang cầm nó bên giếng.
Mục Trường Thanh đứng im rất lâu. Gió trên Vọng Thiên thổi qua lan can đá. Trên đầu họ, những đường nứt sáng mảnh như chỉ vẫn chạy ngang bầu trời xám tro, chụm về phía mặt trời trắng đục.
– Bà biết vì sao con không cắt. – Ông nói.
– Biết. Ninh Viễn.
– Ba vạn người.
– Bà đếm. – Bà nói. – Con đi dọc sông Mân ba tháng. Bà đi một năm. Bà biết tên hai nghìn người. – Bà ho. – Bà dạy nó chỗ rốn. Bà không dạy nó chờ.
– Bà dạy hai đứa lên thang.
– Ừ. Bà bảo. Đèn tụi nó tắt.
– Con tiễn mười bảy.
– Ừ.
Hai thầy trò nhìn nhau qua một bậc đá. Một người trông như ông thầy đồ năm mươi tuổi, tóc đen, hai bên thái dương bạc trắng. Một người trông như bà già bảy mươi. Người trông trẻ hơn đã sống hơn một nghìn năm, Nhen nghĩ. Người trông già hơn đã sống ba nghìn sáu trăm năm.
– Con đếm Ngày Lửa Hạ bốn trăm năm. – Bà nói. – Bà đếm ba nghìn sáu trăm năm. Mỗi lần nó hạ lửa thì bậc sau nhẹ hơn bậc trước. Không phải vì nó nhận. Vì nó đang ủ. Con bé này nói với con rồi.
– Nếu bà sai?
– Thì con đứng đó mà xem. – Bà nói. – Đông chí nó mở nắp. Con nhìn tay nó. Nó thò xuống lấy chín đứa trên cái thang của con, hay nó thò xuống lấy hết.
Mục Trường Thanh không đáp.
– Con bé này nghĩ ra cách ủ. – Bà nói. – Chín trạm. Chín ngày. Con biết rồi, thằng Liêm báo con rồi. Con nghĩ người phàm không ủ được đất. – Bà nhìn xuống cái bát vỡ. – Năm con mười một tuổi, con nằm dưới đáy giếng cạn ba ngày giữa một cái làng đang cháy. Con sống vì đáy giếng có nước. Con là người phàm hồi đó.
Ông Các chủ nhắm mắt lại.
Ông đứng như vậy cho tới khi gió đổi chiều hai lần. Rồi ông cúi xuống, nhặt cây gậy trúc dưới chân lên. Hai bàn tay ông khép lại. Ông đứng nép sang một bên bậc thứ chín, như Kiều Lẫm đã nép vào lan can trên kia.
– Xuống đi. – Ông nói. Giọng ông đã trở lại như cũ, hiền, ấm, không cao. – Ta không trói ai.
Tám đứa trẻ áo trắng đi xuống ngang qua ông. Ngọc Đài đi qua, vịn vai Nhen. Bà Lộ bọc hai nửa cái bát vào khăn vải, ôm vào ngực.
– Đông chí. – Mục Trường Thanh nói khi bà đi ngang. – Con sẽ đem Lò Nghiêng xuống rốn. Con sẽ đặt tay lên nó. Nếu nó hỏi, con trả lời.
– Ừ. – Bà nói. – Đem nó xuống. Nó cũng phải về chỗ của nó.
Tám ngày sau đó, Nhen không rời Thung Ba Lửa.
Cô quỳ bên mép khe số Ba từ lúc mặt trời trắng đục mọc tới lúc nó lặn, hai bàn tay áp xuống đá. Đêm cô ngủ hai canh giờ trong cái lều dựng cạnh Lò Lưu Ly. Sư phụ ngồi sau lưng cô suốt, trên một tấm chiếu cói, bàn tay đặt lên đỉnh đầu cô, như ba ngày dưới chân Vách Tro.
Mỗi ngày một vòng.
Mùng bốn, sợi chỉ dưới đáy khe kéo nhẹ thêm một chút, gần trưa. Bà Lam ở suối nóng cửa sông. Mùng năm, nó nhẹ đi lúc giữa chiều, rồi chao đảo cả buổi tối, kéo mạnh rồi nhẹ, mạnh rồi nhẹ, như một người thở không đều. Gần nửa đêm Khải bay xuống, mặt nhem nhuốc. Cậu ta kể chân Thang Mây phun hơi trắng như ống khói. Bà Tào Dung với mười hai đan sư Thiên Thăng Các đang ngồi quanh cái gốc thang gãy, dùng chính Bạch Hỏa đã rút ra suốt mấy chục năm để giữ cho hơi thôi phun. Bà Tào Dung không nói gì với cậu ta, chỉ khóc, khóc mà tay vẫn không ngừng. Gần sáng mùng sáu, sợi chỉ thôi chao.
Mùng sáu, trấn Khói. Một bức tường gạch ở đầu phố than nứt toác lúc giữa trưa. Ông Bảy Đe cho người đổ thêm nước vào máng. Tới chiều thì đất thôi rung.
Mùng bảy, Vách Tro. Ông Lạc nhắn qua Hầu Bảy: cái khe ấm dưới chân vách ba nghìn sáu trăm năm chưa nguội, hôm nay lần đầu tiên thở ra hơi lạnh.
Mùng tám, mỏ Hỏa Tủy. Cả núi Đe rung một lần, mạnh, lúc chạng vạng. Nhen thấy nó dưới lòng bàn tay mình, như có ai đập búa vào đáy một cái chảo. Rồi thôi. Hưng gửi một đứa nhỏ mồ côi chạy qua suối sang báo: mấy đứa trong hang mỏ ra hết rồi, không ai sao, mẹ cái lò.
Mùng chín, chín cột lửa đá ở Đại Điện Hồi Hỏa. Tông chủ đứng ở cột giữa. Trưởng lão Liêm đứng ở cột thứ chín, sát cửa. Khải nói ông Liêm đứng từ sáng tới tối không ngồi xuống lần nào.
Mùng mười, số Hai. Hưng với Phương Hàn và năm chục thợ quây cột lửa vàng cam trong vòng tường gạch, đổ nước suối vào qua mấy chục cái máng. Cột lửa tụt xuống từng gang tay một. Tới tối thì nó không còn gầm nữa. Nó chỉ thở.
Mùng mười một, số Một. Mạc Diệu với ba chục đệ tử đan đường. Và Ngọc Đài.
Cô ta đứng ở đó, áo đỏ đan đường, tóc buộc dải lụa đỏ, mặt còn tái. Tám ngày ở Vân Lô, Khải nói đèn của cô ta ở Điện Đèn Hồn đã trở lại màu vàng, có hạt lam ở giữa, nhỏ, mà có. Cô ta không xin phép ai. Cô ta tự xuống Thung Ba Lửa từ sáng, đặt hai bàn tay lên miệng số Một. Cô ta thả linh hỏa đỏ son yếu ớt của mình vào lòng than đỏ au, rồi nắn nó, hạ nó, từng bậc, như hạ lửa chín bậc.
– Ngươi dạy ta cái này. – Cô ta nói với Nhen qua cả cái thung lũng, giọng khàn mà vẫn sắc. – Ta học được năm vòng. Hôm nay ta làm đủ chín.
Mỗi sáng, Nhen với sư phụ nhìn mặt trời.
Bà nhìn bằng mắt trần. Cô nhìn qua kính. Mỗi sáng thêm một thanh ghi tối đi. Mùng sáu còn mười hai thanh sáng. Mùng chín còn sáu. Mùng mười một chỉ còn một thanh, thanh giữa, sáng mờ mờ như sợi bấc đèn sắp lụi.
Và mỗi ngày sư phụ ho nhiều hơn. Tàn lửa bay ra khỏi miệng bà mỗi ngày một ít đỏ đi, nhạt đi, như tàn của một đống lửa sắp tàn. Bàn tay bà đặt trên đầu Nhen mỗi ngày một nhẹ hơn. Nhen không hỏi. Bà không nói.
Đêm mười một, cả Thung Ba Lửa im lặng. Không còn tiếng gầm của số Hai. Chỉ còn cái khe số Ba thở, chậm, rất chậm. Chín lần ngắn. Một lần dài. Sợi chỉ dưới đáy khe giờ chỉ còn kéo nhẹ như hơi thở một đứa trẻ ngủ. Nhỏ như sợi chỉ. Hẹp như vòng trong cùng của Cửu Hoàn.
Gần sáng mười hai, Mục Trường Thanh tới.
Ông đi bộ xuống từ sườn núi phía bắc, như cái sáng rằm tháng Tám năm ngoái. Sau lưng ông là Kiều Lẫm và bốn người áo trắng, khiêng trên đòn ngang một cái lò đồng ba chân đen bóng. Cái lò lắc lư trên đòn. Nó nghiêng. Nhưng không nghiêng về một hướng nào trong bốn hướng nữa. Ở đây, cách cái khe nứt mười bước chân, nó nghiêng chúi xuống, như người ta cúi xuống nhìn một cái giếng.
Họ đặt nó xuống trong vòng chín cây cọc tre buộc lụa trắng, ngay sát mép khe.
Mục Trường Thanh đứng bên cạnh nó. Ông đặt một bàn tay lên nắp lò.
Sư phụ ngồi dậy khỏi tấm chiếu cói. Bà không nói gì với ông. Bà nhìn lên trời.
Đông chí. Mặt trời không mọc.
Ở phía đông, nơi đáng lẽ mặt trời trắng đục phải nhô lên, chỉ có một vệt sáng mờ, rồi tắt. Thanh ghi cuối cùng đã tắt. Cả bầu trời đen sẫm, đen như lòng một cái nồi úp, không trăng, không sao. Chỉ có những đường nứt sáng mảnh như chỉ vẫn chạy từ chân trời này sang chân trời kia, chụm về chỗ đáng lẽ là mặt trời.
Rồi những đường nứt ấy sáng lên. Dày ra. Toác ra.
Cái vung lò bắt đầu nhấc lên.
Nhen thấy nó không cần kính. Cả thung lũng thấy nó. Những mảnh trời giữa các đường ghép tách ra, nhấc lên, như những cánh của một cái nón úp ngược đang xòe ra. Qua những kẽ hở ấy là ánh sáng. Trắng. Trắng như đáy khe số Ba, trắng như lửa sau những thanh ghi.
Và trong ánh sáng trắng ấy, có một cái bóng.
Nó cúi xuống. Như cái sáng hai mươi bảy tháng Tám năm ngoái trên bậc thứ chín. Nhưng lần này nó không dừng ở đó. Từ trong cái bóng ấy thò xuống một bàn tay.
Bàn tay ấy to tới mức Nhen không nhìn thấy hết nó. Những ngón tay của nó cong xuống từ mép trời phía bắc, mép trời phía nam, mép trời phía đông, phía tây. Chúng không chỉ xuống chỗ Thang Mây gãy. Chúng không chỉ xuống chỗ nào cả. Chúng khép lại từ mọi phía, chậm, rất chậm, như người ta khum tay lại để bốc một hòn bi lên khỏi đáy lò.
Bên cạnh Lò Nghiêng, Mục Trường Thanh ngẩng đầu nhìn lên.
Ông nhìn lâu. Nhen thấy bàn tay ông đặt trên nắp lò run lên.
– Nó lấy hết. – Ông nói. Giọng ông nhỏ như của một đứa trẻ. – Nó không nhìn cái thang. Nó lấy hết.
Cây gậy trúc tuột khỏi tay ông, rơi xuống mặt đá đen, lăn tới mép khe, rồi rơi xuống. Không nghe tiếng chạm đáy.
Trên đầu họ, những cánh của cái vung lò tách ra hết, xòe rộng, rồi nhấc lên, nhấc lên mãi.
Nắp đã mở hẳn.
— Hết chương 33 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe