Chương 20: Nửa còn lại
Dấu chân sư phụ in trên lớp sương đọng ở bờ cỏ, nhỏ và cách nhau đều, đi ra khỏi cổng tre rồi rẽ về phía đông, về phía không có đường mòn nào.
Nhen thức dậy lúc trời còn xám tro. Cái chõng tre của bà trống. Tấm chăn gấp vuông góc như mọi sáng. Ba năm nay sáng nào cũng vậy, cô dậy thì bà đã đi, cô nấu xong nồi cháo thì bà về, tay không, không nói đi đâu. Ba năm cô không hỏi. Cô nghĩ người già thì hay đi dạo.
Sáng nay cô đi theo dấu chân.
Dấu chân dẫn qua một lùm sim, qua một dải đá ong lổn nhổn sau giếng Lạnh, lên một mỏm đá nhô ra khỏi sườn núi như cái lưỡi. Ở đầu mỏm đá không có cây. Đứng ở đó nhìn được cả thung lũng phía đông, những rặng đồi chồng lên nhau xanh thẫm rồi xanh nhạt, xa nữa là một dải sương trắng nằm dài như con sông.
Sư phụ đứng ở mép mỏm đá, quay mặt về phía đông. Hai tay bà buông thõng. Bà không cầm gì.
Mặt trời nhô lên khỏi dải sương.
Nhen theo thói quen nheo mắt lại, quay đi. Sư phụ thì không. Bà đứng nhìn thẳng vào nó, mắt mở trừng, không chớp, không nheo, không đưa tay che. Ánh sáng vàng đỏ hắt lên khuôn mặt nhăn của bà, rọi vào hai con mắt đục, mà hai con mắt ấy không chảy một giọt nước nào. Bà nhìn như người ta nhìn một nồi canh trên bếp.
Nhen đứng sau lưng bà rất lâu. Tới khi mặt trời lên khỏi dải sương một sào, sư phụ mới chớp mắt.
– Hôm nay nó đốt yếu hơn hôm qua. – Bà nói, không quay lại. – Thanh ghi thứ ba bên trái tối hơn một chút. Từ đầu năm tới giờ thanh đó cứ tối dần.
– Sư phụ nhìn thấy mà không cần kính.
– Mắt bà làm bằng cái lửa đó. – Bà nói. – Lửa nhìn lửa thì không chói.
Bà ngồi xuống mép đá, hai chân thõng ra ngoài khoảng không. Nhen ngồi xuống cạnh bà.
– Sư tỷ Ngọc Đài nói năm mươi chín năm không ai biết sư phụ đi đâu mỗi sáng. – Cô nói.
– Giờ con biết rồi. – Bà nói. – Bà đi coi lửa. Năm mươi chín năm ở núi này, sáng nào cũng coi. Trước đó ở chỗ khác, sáng nào cũng coi. Ba nghìn sáu trăm năm, chưa bỏ sáng nào.
Gió buổi sớm từ dưới thung lũng thổi lên, mát và ẩm, mang theo mùi lá sau sau. Bà nhắm mắt lại một lúc. Lúc mở ra, bà bắt đầu kể. Bà kể chậm, giọng thong thả, như cái hôm dưới Vách Tro bà kể chuyện lửa đổ xuống như kể chuyện nhà hàng xóm.
– Bà không có mẹ. – Bà nói. – Cái lò là mẹ bà. Lúc nó mới nhóm, lửa đầu tiên bén lên thì có một đốm bắn ra. Đốm đó là bà. Nó nhặt bà lên, như con nhặt một tàn than rơi ra khỏi bếp. Rồi nó đặt vào lò một hạt tròn, màu xanh, và bảo bà vào theo. Coi lửa từ bên trong. Nó hỏi thì trả lời.
– Cái con thấy dưới Vách Tro. – Nhen nói. – Đứa bé bằng ánh sáng.
– Là bà. – Bà gật đầu. – Nền con trong quá. Lúc đúc, nó soi được cả người ngồi sau lưng con. Bà biết con thấy. Bà để con thấy.
– Hồi đó trời có sao.
– Có. Nắp còn hé. Hạt mới bỏ vào thì chưa đậy, như con bỏ dược vào lò còn để hở nắp cho hơi ẩm bay đi. Người trong hạt nhìn qua chỗ hé thấy trời ngoài lò. Trời ngoài lò có sao. – Bà nhìn lên bầu trời buổi sáng trong và trơn. – Bà ở với họ lâu lắm. Bà không biết bao lâu. Hồi đó bà chưa biết đếm năm.
– Rồi nó mở nắp.
– Rồi nó mở nắp ra xem, và hỏi bà đan có tạp không. – Bà nói. Giọng bà không đổi. – Con biết đan tạp là sao rồi đó. Vòng văn đứt khúc, chỗ nóng chỗ nguội, chỗ cháy sém chỗ còn sống. Bà nhìn khắp viên đan. Chỗ này người ta đốt nhà nhau. Chỗ kia người ta chết đói trong khi kho lúa bên cạnh mục. Chỗ nọ người ta đắp đập chặn sông cho mình, đồng bên dưới khô nứt. Bà thấy tạp. Bà nói tạp.
– Sư phụ không biết...
– Bà không biết nói tạp thì nó đốt. – Bà nói. – Bà là đốm lửa. Lửa không biết nói dối. Lửa chỉ biết nóng chỗ nào thì nói chỗ đó nóng. Bà tưởng nó hỏi để sửa. Như người đứng lò thấy đan tạp thì hạ lửa, thêm dược, ủ lại. Bà không biết với nó, sửa là đốt cho sạch rồi luyện lại từ tro.
– Nó đổ lửa xuống. – Bà nói. – Rồi đậy nắp lại. Từ đó trời trơn.
Nhen nhớ dải tro đen dày bằng ba người đứng chồng lên vai nhau ở Vách Tro, nhớ bà ngồi dưới chân vách nói cát ở bờ biển chảy ra như mật ong.
Cổ thư trong đầu bà.
– Còn sống mấy nghìn người trong hang sâu. – Bà nói. – Họ giữ được một bếp lửa ướt trong hang suốt mấy tháng tro rơi. Ngoài kia lửa đốt hết, mà trong hang người ta phải giữ lửa cho khỏi tắt. Giữ bằng nước. Than ướt thì cháy chậm, cháy lâu, không bùng. Một bà già trong hang dạy bà câu đó. Lửa không ở trong lò. Lửa ở trong nước.
Nhen quay sang nhìn bà.
– Bà học làm người từ đó. – Bà nói. – Học ăn, học ngủ, học già đi cho giống người ta. Bà không chết được, nên cứ vài chục năm phải đổi chỗ, đổi tên. Ung Lộ là cái tên thứ bốn mươi mấy. Bà quên rồi.
– Ông ấy nói đúng.
– Nó nói đúng một nửa. – Bà nói. – Bà là Lô Đồng. Lần trước bà báo đan tạp. Đúng. Còn nửa kia, nó nói Chủ Lô mở nắp để coi đan đã ra tinh chưa, ra tinh thì luyện tiếp. – Bà lắc đầu, rất chậm. – Lúc đặt bà vào lò, nó có nói với bà một câu. Luyện hai lửa. Lửa đầu đốt cho sạch. Lửa sau ủ cho chín. Hết lửa sau thì thu đan.
– Thu đan.
– Đông chí năm sau là hết lửa sau. – Bà nói. – Lần này nó mở nắp không phải để coi. Nó mở để lấy. Đan tạp thì nó đốt lại. Đan không tạp thì nó lấy ra. Lấy ra rồi nó làm gì với viên đan thì bà không biết. Người ta luyện đan thì để uống.
Nhen ngồi im. Gió thổi tóc bạc của bà lòa xòa trước mặt. Cô nghĩ tới chín người. Chín ngọn lửa thuần, còn non, đặt lên miệng lò cho người ta thấy viên đan đã thành tinh.
– Vậy chín người...
– Không ai cần chín người. – Bà nói. – Nó không cần. Bà đã nói với thằng... – Bà dừng lại, như vấp phải một hòn sỏi. – Bà đã nói với người ta như vậy. Người ta không tin. Người ta bảo bà nói dối để người ta đừng cản bà.
– Cản sư phụ làm gì?
Bà quay sang nhìn cô. Lần này bà nhìn thẳng, như nhìn mặt trời.
– Khi nắp mở, – bà nói, – bà muốn cắt cái sợi nối giữa viên đan với cái lò. Cắt đúng lúc nắp mở. Viên đan không dính vào lò nữa thì nó lấy không được. Viên đan rơi ra ngoài.
– Rơi ra đâu?
– Ra chỗ trời có sao.
Nhen nhìn bàn tay mình. Cô nhớ ba viên Hồi Mạch trong lòng Lò Nghiêng đêm mùng sáu, nằm trên lớp tro dược. Đan nào luyện xong cũng dính đáy lò một chút, ở chỗ đan chạm lò. Muốn thu đan phải chờ nguội, rồi lấy muỗng đồng khẽ khàng nạy chỗ dính ra.
– Sợi nối ở đâu?
– Ở chỗ đan dính đáy lò. – Bà nói.
– Chỗ đó ở đâu?
– Bà biết. – Bà nói. – Bà không nói. Có một lần bà nói ra, có người tới đó trước bà, và đất nứt.
Bà không giải thích thêm. Nhen cũng không hỏi.
– Muốn cắt thì phải biết nắp mở thế nào. – Bà nói. – Mở về hướng nào, đường ghép nằm đâu, nắp nóng tới đâu. Bà ở trong viên đan, bà không lên tới nắp được. Lô Đồng ra khỏi đan thì tan. Nên bà cần người lên coi cho bà.
Nhen ngẩng lên.
– Bảy người.
– Bảy đứa. – Bà nói. – Đứa thứ hai, bà bảo nó lên đo đường ghép. Nó lên Thang Mây. Đèn nó tắt sau chín ngày. Bà tưởng nó ở lại trên đó, bà tưởng ở trên đó có chỗ cho người ta ở. Đứa thứ ba bà bảo nó lên tìm đứa thứ hai. Đèn nó cũng tắt sau chín ngày. Lúc đó bà mới biết.
– Ai ở trên đó?
– Không ai. – Bà nói. – Thang Mây là cái cột hơi bốc lên nắp. Nó có từ sau Kiếp Hỏa. Người ta tưởng là đường lên trời. Leo lên tới đầu thang là tới nắp. Nắp nóng. Người nằm trên nắp chín ngày thì chín.
Nhen thấy dạ dày mình lộn lên. Cô cúi đầu, nuốt xuống.
– Năm đứa sau, bà không bảo. – Bà nói. – Tụi nó tự đi. Có đứa đi vì nghĩ nó sẽ tìm ra cách bà không tìm được. Có đứa đi vì không chịu tin bà. Thằng Lô Nhân đi vì nó muốn biết bên kia có gì. Bà không cản.
– Sư phụ đưa bảy người lên chết. – Nhen nói. Giọng cô không to, nhưng cô nghe nó rơi xuống mỏm đá như một hòn đá rơi.
Bà Lộ không chối.
– Bà bảo hai. – Bà nói. – Năm đứa kia bà không cản. Không cản cũng là đưa.
Hai thầy trò ngồi trên mỏm đá cho tới khi mặt trời lên cao hơn đầu cây thông. Không ai nói gì thêm. Có một lúc Nhen định hỏi về đứa đệ tử bà không muốn nhắc, đứa còn lại không lên trời. Cô nhìn mặt bà, rồi thôi. Cô nghĩ tới câu hỏi của Mục Trường Thanh bên Lò Lưu Ly. Bà ấy còn uống nước bằng cái bát mẻ không. Cô nghĩ tới câu của bà tối qua. Vì nó bỏ đi trước khi bà kể.
Cô không hỏi. Cô sợ câu trả lời.
– Mặt trăng. – Cô nói thay vào đó. – Qua kính con thấy nó là một cái lỗ, bị cái gì che gần kín.
– Lỗ thoát hơi. – Bà nói. – Lò nào cũng phải có chỗ cho hơi ra. Nó che bớt, mở bớt, theo hỏa hầu của nó. Người ta gọi là trăng tròn trăng khuyết.
– Tháng nào cũng vậy.
– Tháng nào cũng vậy. – Bà nói. – Nó làm việc đều tay lắm. Hơn bất cứ đứa đứng lò nào bà từng dạy.
Bà chống tay đứng dậy. Cô đỡ lấy khuỷu tay bà. Người bà vẫn nóng, nhưng đã đỡ hơn mấy hôm trước. Sáng nay bà không ho.
Hai người về tới Am Lò Nghiêng lúc nồi cháo đáng lẽ đã chín. Nhen nhóm bếp, nấu cháo, múc ra hai cái bát đất. Bà ăn hết một bát. Cô ăn được nửa bát. Cái bát mẻ vẫn nằm hai nửa trên bậc đá ở cửa, ghép vào nhau như còn dùng được.
Gần trưa, Khải lên. Cậu ta đứng ở cổng tre, má trái hằn năm vết ngón tay đỏ bầm, mà mắt lại sáng.
– Ông nội tôi đánh tôi. – Cậu ta nói. – Rồi ông nội tôi khóc. Rồi sứ giả tới, nói Các chủ cho tôi ra khỏi danh sách, rương linh thạch khiêng về Vọng Thiên. Ông nội tôi không biết nên mừng hay nên đánh tôi thêm, nên ông ngồi im cả buổi.
Nhen kể cho cậu ta nghe. Không kể hết. Cô kể chuyện Lô Đồng, chuyện bà báo đan tạp, chuyện thu đan. Cô không kể bảy người. Khải nghe, mặt đổi màu mấy lần, nhưng không nói gì. Lúc cô kể xong, cậu ta quay đầu nhìn vào trong nhà, chỗ bà Lộ đang nằm nghỉ trên chõng.
– Bà ấy nói với cô vậy. – Cậu ta nói.
– Dạ.
– Ông ta nói với cô một nửa. Bà ấy nói với cô nửa kia. – Khải nói. – Cô có nghĩ là còn một nửa nữa không?
Nhen chưa kịp trả lời thì nghe tiếng chân chạy trên dốc. Cái tiếng chân vấp đá, thở hồng hộc, chỉ có thể là của một người.
Hầu Bảy lao qua cổng tre, tóc dựng như bàn chải, mặt đỏ gay.
– Chị Nhen! Tiêu sư huynh! – Nó thở. – Sư tỷ Ngọc Đài đi rồi!
– Mùng bốn mà. – Khải nói.
– Không phải mùng bốn! Sáng nay! – Hầu Bảy nói, gần như khóc. – Sứ giả nói Thượng Giới mở cửa sớm, phải lên Vọng Thiên ôn dưỡng cho đủ ngày. Họ đưa sư tỷ đi từ lúc gà gáy, bằng xe mây trắng, không cho ai tiễn. Tông chủ cũng không được biết trước. Sư tỷ chỉ kịp dặn em một câu.
– Câu gì?
Hầu Bảy nhìn Nhen, rồi nhìn xuống đất.
– Sư tỷ nói, "Nói với Nhen, ta đi trước. Đừng có đứng đó mà nhìn trời."
— Hết chương 20 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe