Chương 5: Vách Tro
Sư phụ cắm cái xẻng gỗ vào vách núi, kéo xuống một vệt, và từ trong vết cắt rơi ra một hạt cườm trời nhỏ bằng hạt đậu xanh.
Nhen cúi xuống nhặt. Hạt tròn, màu khói nâu, mặt nhẵn như ai mài. Cô đặt nó lên lòng bàn tay, lấy móng cái gõ nhẹ. Tiếng kêu đanh và trong, đúng cái tiếng hồi nhỏ cô vẫn gõ để thử hạt thật hạt giả trên bãi Cát Trắng. Hạt thủy tinh thổi thường gõ nghe đục. Hạt cườm trời gõ nghe như chuông bạc nhỏ.
– Ở quê con, hạt này ở đâu ra? – Sư phụ hỏi.
– Dạ, trong cát. Cha con nói trời rơi xuống.
– Không phải trời rơi. – Bà nói. – Cát chảy.
Hai thầy trò đi từ lúc trời còn tối, theo con đường mòn mé tây núi Vân Lô, qua hai cái đèo nhỏ và một rừng sau sau đang trổ lá non đỏ như rắc son. Tới nơi thì mặt trời đã lên cao một sào. Vách Tro là một vách núi dựng đứng, cao gấp mười lần cây thông, nằm giữa hai sườn đồi trọc. Phần trên là đất đỏ và rễ cây như mọi vách núi khác. Nhưng ở giữa vách có một dải màu đen xám chạy ngang, dày bằng ba người đứng chồng lên vai nhau, phẳng như ai trát vữa. Dải ấy không phải đất, không phải đá. Nó là tro, tro bị ép lâu tới mức cứng như đá ong, cầm xẻng gõ vào thì vỡ ra thành từng phiến. Và khắp trong dải tro ấy, nắng chiếu tới đâu là lóe lên những đốm sáng nhỏ tới đó.
Hạt cườm trời. Hàng nghìn, hàng vạn hạt.
– Tro Cổ. – Sư phụ nói. – Người ta gọi vậy. Tro của Kiếp Hỏa.
Nhen đã nghe chuyện Kiếp Hỏa từ nhỏ, như mọi đứa trẻ Hoàn Châu. Rằng ba nghìn sáu trăm năm trước, trời đổ lửa xuống đất, đốt cháy mọi thứ, chỉ một số ít người sống sót trong hang sâu. Rằng năm Kiếp Hỏa tắt là năm thứ nhất của Hoàn lịch. Người ta kể nó như kể chuyện con rồng ở đáy sông Mân, kể cho có, chẳng ai coi là thật.
Giờ cô đứng trước một dải tro dày bằng ba người.
– Cả Hoàn Châu đều có lớp này hả sư phụ?
– Chỗ nào đào đủ sâu thì có. – Bà nói. – Ở quê con, lớp tro bị sông Mân cuốn trôi mấy nghìn năm, còn hạt cườm thì nặng, lắng lại trong cát. Nên dân con sàng được.
Bà đưa cái bao vải cho cô, bảo cạo lấy tro ở những chỗ có nhiều hạt cườm nhất. Nhen cạo. Tro mịn và mát, có mùi như mùi đá lửa vừa đánh. Sư phụ ngồi trên một hòn đá dưới chân vách, lấy bát nước trong túi ra, rót nước từ ống tre vào, uống.
– Lửa xuống từ trên. – Bà nói, giọng thong thả như kể chuyện nhà hàng xóm. – Không phải từ dưới đất lên như núi lửa. Mấy ngày đầu trời đỏ như lòng lò. Sông bốc hơi tới khô đáy. Cát ở bờ biển chảy ra như mật ong, rồi chảy tới đâu đặc lại thành hạt tới đó. Cây cháy hết, đá nứt hết, rồi tro rơi xuống như mưa, rơi suốt mấy tháng liền.
Nhen dừng tay. Cô quay lại nhìn bà. Bà đang nhìn lên đỉnh vách, nơi những rễ thông thòng xuống như râu ông già.
– Sư phụ đọc ở cổ thư nào vậy?
– Cổ thư trong đầu bà. – Bà nói, và cười. Đó là lần đầu tiên Nhen thấy bà cười từ hôm mùng sáu tới giờ.
Cô cạo tiếp. Bao vải nặng dần. Lúc mặt trời gần đứng bóng thì sư phụ gọi cô lại, chỉ cho cô một chỗ dưới chân vách, nơi dải tro chạm xuống đất. Ở đó có một khe đá hẹp, rộng chừng một gang tay, từ trong khe phả ra một luồng hơi ấm, như hơi thở người ngủ say.
– Đất ở đây còn ấm. – Bà nói. – Ba nghìn sáu trăm năm mà lớp tro dưới sâu chưa nguội hết. Ngồi xuống.
Nhen ngồi xếp bằng trước khe đá. Hơi ấm phả lên mặt, lên ngực.
– Con nói với thằng Đỉnh là con giữ lửa bằng nước. – Bà nói. – Người ta cười. Con có biết vì sao người ta cười không?
– Dạ, vì nước dập lửa.
– Ừ. Ai cũng nghĩ vậy. Nước với lửa là hai đứa đánh nhau. – Bà đặt bàn tay khô như vỏ cây lên đỉnh đầu cô. – Nhưng con đã thấy hơi nồi cơm bỏng tay chưa?
– Dạ thấy.
– Hơi nồi cơm là nước. Nó bỏng là vì nó đang mang lửa trên lưng. Nước không chỉ dập lửa. Nước còn chở lửa. Cái áo nước quanh lò của con, con tưởng nó làm lò nguội đi. Không phải. Nó lấy cái nóng chỗ này đem sang chỗ kia, lấy chỗ dư đem bù chỗ thiếu. Đó là lý do lò con không nứt. – Bà ấn nhẹ tay xuống. – Giờ con đừng dùng linh lực đẩy hơi ấm này đi. Con để nó chui vào nước của con. Để nước của con chở nó.
Nhen nhắm mắt. Cô dò vào trong người, nơi thủy linh lực của mình nằm dưới bụng như một cái giếng nhỏ, mát và tĩnh. Hơi ấm từ khe đá chạm vào da cô. Theo thói quen, linh lực của cô dâng lên, đẩy cái ấm ra như người ta đóng cửa trước gió.
– Đừng đóng cửa. – Sư phụ nói.
Cô thả lỏng. Rất khó. Như bắt mình thôi nheo mắt khi nắng chói. Hơi ấm chạm vào da, rồi qua da, rồi chạm vào cái giếng mát bên trong. Cái giếng ấm lên một chút. Rồi thêm một chút. Cô thấy nó lan ra khắp người, không bỏng, mà như ngâm chân vào chậu nước ấm sau một ngày đứng lò. Linh lực thủy của cô không biến thành lửa. Nó vẫn là nước. Nhưng là thứ nước đang ôm hơi ấm trong lòng.
– Giờ trả nó lại. – Bà nói.
Cô đưa tay ra trước khe đá, thả linh lực ra. Một làn hơi trắng mỏng bốc lên từ lòng bàn tay cô, cuộn lại, rồi tan vào không khí. Cô mở mắt. Lòng bàn tay cô ấm như vừa cầm một bát cháo.
Có cái gì đó trong bụng cô vỡ ra rất khẽ, như lớp băng mỏng trên mặt chum. Rồi thủy linh lực dâng lên, nhiều hơn lúc nãy, đầy hơn, chạy qua những đường kinh mạch mà trước giờ cô thấy hẹp như ống sậy. Cô ngồi im cho nó chạy. Lúc nó lắng xuống, cô biết ngay.
– Tầng tám. – Sư phụ nói, như người ta nói trời sắp mưa. – Ba năm con kẹt ở tầng bảy vì con cứ đóng cửa. Lửa đâu có phải giặc.
Nhen ngồi đó một lúc lâu, nhìn bàn tay mình. Ba năm cô tưởng cái giếng nhỏ dưới bụng chỉ biết dập lửa. Hóa ra nó biết ôm.
Trên đường về, hai thầy trò đi chậm. Bao tro trên lưng Nhen nặng trĩu. Sư phụ đi trước, bước nhẹ như mọi khi, thỉnh thoảng dừng lại bẻ một nhánh cỏ, ngửi rồi vứt.
– Sư phụ. – Nhen hỏi. – Hôm trước ở chợ, thằng Kẽm nói sách cổ kể trên trời có sao. Lấp lánh như đom đóm. Có thiệt không?
Bà dừng lại giữa đường. Ở chỗ đó con đường mòn đi qua một sườn đồi trống, nhìn được ra cả một vùng thung lũng xanh mướt bên dưới. Bà ngửa cổ nhìn trời. Trời trưa trong vắt, xanh nhạt, trơn láng, chỉ có mặt trời trắng lóa ở trên đầu.
– Không giống đom đóm. – Bà nói. – Đom đóm bay. Sao thì đứng yên một chỗ, cả trời quay quanh nó. Nhỏ lắm, lạnh lắm. Mà nhiều. Nhiều hơn hạt cườm trong cái vách kia.
– Sư phụ thấy rồi hả?
Bà im. Rồi bà cúi xuống, đi tiếp.
– Bà nghe kể. – Bà nói.
Nhen không hỏi nữa. Nhưng cô nhớ cái giọng bà lúc nói câu "nhỏ lắm, lạnh lắm". Đó không phải giọng người nghe kể.
Hai thầy trò về tới trên dốc Am Lò Nghiêng thì trời đã sập tối. Hai mươi tháng Hai, trăng chưa lên, rừng thông đen kịt. Nhen đốt cây đuốc nhựa thông. Tới khúc quanh cuối thì cô thấy dưới chân dốc có một đốm đèn lồng đang lắc lư chạy lên, nhanh, chao qua chao lại.
– Chị Nhen! Chị Nhen ơi!
Hầu Bảy. Nó chạy tới nơi thì gập người xuống thở, hai tay chống đầu gối, cái đèn lồng giấy rách một lỗ.
– Tiêu sư huynh... – Nó thở dốc. – Tiêu sư huynh lại ngã. Chiều nay. Uống viên Hồi Mạch thứ ba xong được nửa canh giờ thì ói ra máu đen, ngã ngay giữa Điện Đèn Hồn. Tông chủ đang ở đó truyền linh lực. Trưởng lão Liêm nói... – Nó nhìn cô, rồi liếc sang sư phụ, rồi lại nhìn cô. – Trưởng lão Liêm nói thuốc của chị có độc. Ông nói trước mặt cả đan đường. Ông nói hai viên đầu không sao là để người ta tin, tới viên thứ ba mới hại. Ông nói sáng mai giải chị lên Chấp Pháp đường.
Cây đuốc trong tay Nhen chao đi một cái. Mấy giọt nhựa thông cháy rơi xuống đất, xèo lên trong đám lá khô.
Cô quay sang sư phụ. Bà đứng sau lưng cô từ lúc nào, bao tro đã chuyển qua tay bà, mặt bà khuất trong bóng tối, chỉ có ánh đuốc hắt lên một bên gò má nhăn.
– Sư phụ...
– Viên thứ ba ấy còn không? – Bà hỏi Hầu Bảy.
– Dạ... sư huynh uống hết rồi. Mà trong hộp còn sót lại một viên nhỏ xíu, vỡ ra từ viên đó, trưởng lão Liêm đang giữ.
Bà gật đầu chậm rãi.
– Vậy thì tốt. – Bà nói.
– Tốt chỗ nào? – Hầu Bảy buột miệng, rồi bịt miệng lại.
Sư phụ không trả lời nó. Bà quay sang Nhen.
– Đêm nay con ngủ cho đủ. – Bà nói. – Mai người ta sẽ đưa con xem mảnh thuốc đó. Con không cần cãi ai hết. Con chỉ cần nhìn. Con có mắt, có kính.
Bà đi lên dốc, bao tro trên vai, cái bóng nhỏ thó lẫn vào rừng thông. Nhen đứng lại với Hầu Bảy và ngọn đuốc đang tàn dần.
Cô nghĩ tới viên thuốc đầu tiên, ba viên thuốc nằm cách nhau đều như ba con mắt trong lòng Lò Nghiêng. Cô nghĩ tới hai cái bóng in dài trên sân đá chiều hôm chợ phiên, cái chân lò cạo lên mặt đá một vệt trắng. Rồi cô nghĩ tới cái điều Hầu Bảy vừa nói mà nó không để ý.
Ngã ngay giữa Điện Đèn Hồn.
Tiêu Khải bệnh suốt từ tháng Giêng, nằm liệt trong phòng. Ngày uống viên thứ ba, người ta bảo phải nằm yên tĩnh dưỡng, vậy mà cậu ta lại ở Điện Đèn Hồn.
— Hết chương 5 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe