Chương 10: Danh sách chín người
Hai nghìn hạ phẩm linh thạch chất trong hai cái rương gỗ sơn đỏ, mỗi rương một nghìn. Lúc người của Thiên Thăng Các mở nắp rương giữa sân đại điện, cả sân sáng lên một màu xanh nhạt như mặt hồ buổi sáng.
Đó là trưa mùng một. Ông Nghiêm Hữu Tài được người ta khiêng ghế lên tận núi, ngồi giữa sân mà hai tay không biết để đâu, cứ chùi mãi vào vạt áo. Rương thứ hai là của nhà họ Tiêu, nhưng tông chủ cho khiêng thẳng vào kho, không mở.
Đêm đó Vân Lô mở tiệc. Ba mươi mâm bày dọc hành lang đan đường, gà luộc, xôi gấc, rượu nếp cái hoa vàng, chè hạt sen. Đệ tử ngoại môn được ăn chung với nội môn, chuyện mấy chục năm mới có một lần. Người ta mời rượu Ngọc Đài không ngớt. Cô ta uống từng chén, không từ chối ai, mặt vẫn không đỏ. Chỗ ngồi bên cạnh cô ta để trống, trên bàn đặt một đôi đũa không ai cầm: chỗ của Tiêu Khải.
Nhen ngồi ở cuối hành lang với Hầu Bảy và mấy đứa đệ tử đốt lò. Hầu Bảy uống hai chén rượu đã đỏ như gấc, ôm vai cô kể đi kể lại chuyện đêm cháy Hẻm Thiếc, mỗi lần kể ngọn lửa lại cao thêm một trượng.
– Chị ăn đi. – Nó nói. – Chị gầy như que củi.
Cô ăn một miếng xôi. Cô nhìn lên đầu hành lang, nơi Ngọc Đài đang đứng dậy nâng chén với tông chủ.
Tiệc tàn lúc canh hai. Nhen đi vòng ra sau Dược Viên, nơi có cái giếng nhỏ cạnh luống Thanh Tâm. Cô biết Ngọc Đài hay ra đó. Ba năm nay, những đêm cô ra Dược Viên hái sương cho thuốc, lần nào cũng thấy một bóng áo đỏ ngồi trên thành giếng.
Đêm nay cũng vậy. Ngọc Đài ngồi trên thành giếng, chân đung đưa, cái chén rượu không trên tay. Trăng mùng một không có. Chỉ có ánh đèn lồng xa xa từ dãy đan đường hắt tới.
– Ngươi tới chúc mừng ta. – Ngọc Đài nói, không quay lại.
– Dạ không.
– Vậy tới làm gì?
Nhen ngồi xuống bậc đá dưới chân giếng.
– Em có chuyện muốn kể. Sư tỷ nghe hết rồi mắng em sau.
Cô kể chuyện Điện Đèn Hồn. Cô kể ngọn đèn tổ sư thổi một hơi là tắt, ngọn đèn của người sống thổi ba hơi vẫn đứng. Cô kể cái hạt lam nhỏ như hạt mè cô nhìn thấy qua kính, có ở mọi ngọn đèn dãy dưới, không có ở ngọn nào dãy trên. Cô kể luật không ghi ra giấy của người coi đèn: ngày thứ chín, thắp lại, không được nói. Cô không nhắc tới Tiêu Khải.
Ngọc Đài nghe hết. Cô ta không ngắt lời lần nào. Lúc Nhen dừng, cô ta đặt cái chén rượu lên thành giếng, rất nhẹ.
– Thằng Khải cũng biết chuyện này. – Ngọc Đài nói. Không phải câu hỏi. – Vì vậy nó làm cái trò ngu đó.
Nhen không trả lời.
– Ngươi không cần trả lời. – Ngọc Đài nói. – Ta lớn lên với nó. Từ năm tám tuổi nó đã không sợ gì hết, leo lên mái điện, nhảy xuống suối mùa lũ, nghịch lửa tới bỏng cả tay. Tự dưng nó sợ lên Thượng Giới. Ta đã nghĩ mãi không ra. – Cô ta im một lúc. – Giờ thì ta hiểu nó sợ cái gì.
– Vậy sư tỷ...
– Ta hiểu nó sợ. Ta không nói là ta tin.
Ngọc Đài nhảy xuống khỏi thành giếng, đứng trước mặt Nhen. Gần thế này, Nhen ngửi thấy mùi rượu nếp lẫn với mùi lửa than luôn vương trên người cô ta.
– Ngươi nghe ta nói. – Ngọc Đài nói, rành rọt từng chữ, như người đứng lò đọc đơn thuốc. – Đèn tổ sư đặt trên đế đồng từ thời lập tông, chín trăm năm. Đế đồng có khắc trận văn giữ hồn hỏa. Trận văn chín trăm năm cũng mòn. Mòn thì hồn hỏa yếu, gió thổi tắt. Người coi đèn sợ bị phạt vì để đèn tổ tắt, nên thắp lại bằng lửa thường. Đời này truyền đời kia, thành cái luật không ai dám nói. Ông Từ Đèn già lẩm cẩm, uống rượu ngâm rắn, kể cho một thằng nhóc bị phạt nghe. Thằng nhóc đó tin. Một đứa học việc có cái kính phàm vật nhìn thấy hạt xanh hạt đỏ, đứa đó cũng tin. – Cô ta nghiêng đầu. – Ta nói sai chỗ nào?
Nhen ngồi im. Cô không biết Ngọc Đài nói sai chỗ nào. Từng câu đều nghe được. Cô nghĩ tới ngọn đèn thổi tắt. Cô nghĩ tới chín ngày. Cái chín ngày ấy thì trận văn mòn không giải thích được. Nhưng cô không có gì trong tay để đưa ra, chỉ có một câu kể của ông già say rượu mà cô không được nghe tận tai.
– Sư tỷ không nói sai. – Cô nói. – Chỉ là em thấy.
– Ngươi thấy. – Ngọc Đài nhắc lại. Rồi giọng cô ta đổi đi, thấp xuống, rè rè như ngọn lửa sắp tắt. – Ngươi biết hôm nay ta thấy gì không? Ta thấy cha ta ngồi giữa sân đại điện, hai tay chùi vào vạt áo, khóc. Lần đầu tiên từ ngày mẹ ta mất. Năm năm nay cái tiệm đó chỉ còn nửa tủ thuốc, cha ta đêm nào cũng ngồi tính sổ tới gà gáy, ho ra từng cục. Hôm nay ông khóc. – Cô ta cúi xuống, nhìn thẳng vào mắt Nhen. – Ngươi muốn ta trả lại một nghìn linh thạch, bảo với cha ta là con không đi đâu, vì có một ngọn đèn bị gió thổi tắt?
– Em không muốn gì hết. – Nhen nói. – Em chỉ muốn sư tỷ biết.
Ngọc Đài đứng thẳng lên. Cô ta cầm cái chén rượu không, đi về phía dãy đan đường. Được mấy bước thì dừng.
– Ta biết rồi. – Cô ta nói, không quay lại. – Giờ ngươi về ngủ đi. Rằm tháng Tám ta còn cần ngươi đứng lò.
Sáng mùng hai, sư phụ đánh thức Nhen từ lúc trời chưa sáng.
– Ra sân.
Giữa sân lò, cạnh Lò Nghiêng, bà đã đặt một cái nồi đồng nhỏ đầy nước. Lò Nghiêng đã nhóm lửa, lửa vừa, than đỏ đều. Cái nồi nước đặt trên một hòn đá, cách lò một sải tay, không chạm vào lò, không có lửa bên dưới.
– Con làm cho nồi nước này sôi lăn tăn. – Bà nói. – Sôi như mắt cua, không hơn không kém. Giữ một canh giờ. Không được bê nồi lên lò.
Nhen nhìn cái nồi, nhìn cái lò, nhìn bà.
– Dạ, lấy lửa ở đâu?
– Lấy ở lò. Bằng tay con.
Cô hiểu. Cô bước tới giữa lò và nồi, đặt bàn tay trái lên thành Lò Nghiêng, bàn tay phải lên thành nồi đồng. Lò nóng rát, nồi lạnh ngắt. Cô làm như ở Vách Tro: không đẩy cái nóng ra, để nó chui vào nước trong người. Hơi nóng từ thành lò đi vào lòng bàn tay trái, chạy lên cánh tay, qua ngực, xuống cánh tay phải, ra lòng bàn tay phải, vào nồi.
Lần đầu, nồi nước ấm lên được một chút thì tay trái cô bỏng tới mức phải giật ra. Lần thứ hai, cô cầm lâu hơn, nước trong nồi sủi được mấy cái bong bóng nhỏ, rồi cô thấy choáng, ngồi phịch xuống đất. Lần thứ ba, nước sôi ùng ục như nồi luộc gà, cô hoảng, buông cả hai tay.
– Sôi lăn tăn. – Sư phụ nói từ bậc cửa. – Không phải sôi ùng ục. Con chở lửa như người ta gánh nước qua cầu khỉ. Đổ thì mất, gánh nhiều thì té.
Tới trưa, cô giữ được nồi nước sôi lăn tăn chừng một nén hương. Tới chiều, được nửa canh giờ. Tay trái cô phồng hai cái bọng nước. Sư phụ đưa cho cô một chén thuốc mỡ, bảo bôi rồi làm tiếp.
– Cái này gọi là gì sư phụ? – Cô hỏi, lúc ngồi nghỉ, thổi phù phù vào lòng bàn tay.
– Không có tên. – Bà nói. – Thằng Lạc thích đặt tên thì nó sẽ gọi là Thủy Hỏa Đồng Lô, nước với lửa chung một lò. Bà thì gọi là bưng nồi không có quai.
Bốn ngày liền như thế. Tới tối mùng năm, cô giữ được nồi nước sôi lăn tăn trọn một canh giờ. Lúc cô buông tay, nồi nước vẫn còn lăn tăn thêm mấy nhịp thở rồi mới lặng. Hai bàn tay cô chai lên một lớp mới, cứng như da gót chân.
Sư phụ ngồi xem từ đầu tới cuối. Lúc cô đứng dậy, bà gật đầu một cái, rồi đi vào trong. Một lúc sau bà trở ra, ôm theo hai cái hũ sành nhỏ, miệng hũ buộc lá chuối khô.
Bà đặt hai cái hũ xuống trước mặt cô.
Nhen nhận ra ngay. Hũ của nhà cô. Hũ sành men da lươn, vai hũ có vết ngón tay cái mẹ cô ấn vào lúc đất còn ướt. Mẹ cô nặn cả chục cái hũ như thế để đựng hạt cườm trời. Ba năm trước, bà mua đúng hai hũ này của cha cô, ba lạng bạc một hũ.
– Hạt cườm trời. – Bà nói. – Ba năm bà chưa mở.
– Sư phụ mua để làm gì vậy?
– Để chờ ngày này.
Bà ngồi xuống bậc đá, cái bát mẻ trên đầu gối. Vết rạn bây giờ đã chạy tới đáy, mỗi lần bà rót nước vào lại rỉ ra một giọt.
– Rằm tháng Tám vòng hai đánh ở Hỏa Khẩu số Ba. – Bà nói. – Bà biết vì năm nào chủ khảo cũng ra đề ở miệng lửa khó nhất. Lửa hoang. Người có linh hỏa thì cảm được nó từ trong người ra. Con không có. Con chỉ có cái kính, mà kính chỉ nhìn được ngọn lửa ngoài lò, không nhìn được thuốc trong lò. – Bà gõ ngón tay lên một cái hũ. – Muốn nhìn lửa trong lò thì làm cái lò nhìn xuyên được.
– Lò lưu ly? – Nhen nói. – Dạ, lưu ly gặp lửa là nứt. Chén lưu ly đổ nước sôi vô còn nứt.
– Chén thường thì nứt. – Bà nói. – Hạt cườm trời là thứ đã đi qua Kiếp Hỏa. Nó không sợ lửa. Nó chỉ sợ người thổi nó ra không biết ủ.
Bà đứng dậy.
– Bà đã xin thằng Đỉnh cho con nghỉ hai tháng. – Bà nói. – Con về Bến Cát Trắng. Ôm hai hũ này về cho cha con. Về thổi cho bà một cái lò.
Đêm đó Hầu Bảy chạy lên, mang theo một gói bánh in và một câu nhắn. Nó nói nó lén đứng dưới cửa sổ phòng cấm túc, Tiêu sư huynh thả xuống cho nó một sợi chỉ, đầu chỉ buộc một mẩu giấy gấp.
Trên mẩu giấy chỉ có mấy chữ, nét viết nghiêng ngả như viết trong bóng tối:
"Nói với cô thợ lò: tôi nợ cô một lần. Nghiêm sư tỷ biết rồi phải không? Cô đừng để sư tỷ uống bất cứ thứ gì người trên Vọng Thiên đưa."
— Hết chương 10 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe