Chương 23: Lò Nghiêng chỉ đường
Thanh ghi thứ ba bên trái vẫn tối hơn mấy thanh kia.
Nhen hạ mảnh lưu ly xuống, nhắm mắt cho đốm trắng trên mắt mờ đi, rồi mới mở ra. Sáng rằm tháng Chín. Cô đứng ở đầu mỏm đá phía đông, đúng chỗ sư phụ đứng mỗi sáng năm mươi chín năm nay. Đây là sáng thứ hai cô ra đây một mình.
Lần này cô không quỳ sụp xuống. Mắt cô vẫn rát, nước mắt vẫn ứa ra, nhưng cô nhìn được lâu hơn, đủ để đếm. Mười bảy thanh ghi đen sẫm nằm song song ngang miệng lửa. Thanh thứ ba từ bên trái sang tối hơn, như có ai gạt bớt than ở chỗ đó. Sau thanh ghi là lửa trắng, cuộn chậm. Hôm nay cô không thấy cái bóng.
Cô không biết đọc lửa như sư phụ. Cô chỉ biết nhìn. Nên cô nhìn, rồi về.
Sân Am Lò Nghiêng sáng nay vắng như một cái chum cạn. Không có tiếng ngâm nga bên chum nước. Cái bát vỡ vẫn nằm hai nửa trên bậc đá, Nhen không dám dời nó đi. Cô nấu một nồi cháo, ăn một mình, rồi ngồi xổm giữa sân nhìn hai đường than trên nền đá.
Hai đường than cô vạch hôm mười tám tháng Tám, theo dây dọi treo trên quai Lò Nghiêng. Hôm Thiên Thăng Các tới khiêng lò, bước chân người làm nhòe một nửa, cô đã tô lại. Giờ chúng nằm đó, đen và thẳng, chạy từ chỗ ba vết tròn sẫm màu ra phía tây bắc, dài bằng một gang tay.
Nó nghiêng vì nó chỉ đường. Đường về chỗ nó được làm ra.
Chỗ đan dính đáy lò. Bà biết, mà bà không nói.
Cô ngồi đó tới khi nắng lên tới đầu tường rào. Rồi cô nhớ ra một điều cô đã quên từ hồi tháng Tư.
Ống khói ở Bến Cát Trắng.
Ống khói càng cũ càng nghiêng. Cái của nhà ông Tư Đục xây từ đời ông cố, nghiêng tới mức phải chống hai cây cột. Cái nào cũng nghiêng về phía đông bắc, về phía núi. Ngược gió bấc. Ông nội nói gió hút. Cha tưởng ông nói chơi.
Lò Nghiêng thì nghiêng về tây bắc. Cái lò nặng mấy trăm cân, không ai đẩy, dựng thẳng hôm trước hôm sau lại nghiêng. Cả đời nó nghiêng một hướng.
Nếu có cái gì đó hút, thì hai thứ nghiêng về hai hướng khác nhau, từ hai chỗ khác nhau, phải cùng nghiêng về một chỗ.
Cô đứng bật dậy.
Tàng Thư Các buổi trưa vắng người. Trưởng lão Lạc Văn Khúc ngồi sau cái bàn gỗ dài, cặp kính đá trễ xuống mũi, đang ngủ gật trên một cuộn đan phổ. Nghe tiếng chân, ông giật mình ngẩng lên, làm rơi cái quạt nan.
– Cháu. – Ông nói, lau miệng. – Cháu có tin gì của sư phụ cháu không?
– Dạ không. – Nhen nói. – Con xin mượn bản đồ.
– Bản đồ gì?
– Bản đồ có cả núi Vân Lô, Thung Ba Lửa, với Bến Cát Trắng. Có sông Mân. Càng đúng càng tốt.
Ông Lạc nhìn cô một lúc, rồi đứng dậy, lạch bạch đi vào gian trong. Một lúc lâu ông mới trở ra, ôm một cuộn lụa dài tới gần hai sải tay, mép đã sờn, mùi long não xộc lên mũi.
– Bản đồ đo đạc năm ba nghìn hai trăm. – Ông nói. – Người vẽ đi bộ hai mươi năm. Cả Hoàn Châu không có cái nào đúng hơn.
Hai người trải nó ra trên bàn. Sông Mân vẽ bằng mực lam, uốn khúc từ vùng núi phía bắc xuống biển phía nam như một con rắn. Núi Vân Lô ở thượng nguồn, vẽ bằng mực son. Bên kia thung lũng là núi Đe. Giữa hai núi, một vệt mực đen nhỏ ghi ba chữ: Thung Ba Lửa. Ở hạ lưu, gần cửa biển, có một chấm nhỏ ghi: Bến Cát Trắng, phường Lưu Ly.
Nhen lấy một sợi chỉ gai, đặt một đầu lên chỗ Am Lò Nghiêng ở sườn sau núi Vân Lô. Ông Lạc đưa cho cô cái la bàn đồng của Tàng Thư Các, kim nam châm run run trong lòng nước. Cô xoay bản đồ cho đúng hướng, rồi kéo sợi chỉ về phía tây bắc, đúng theo góc của hai đường than trên nền đá sân Am. Cô đè sợi chỉ xuống bằng hai cái chặn giấy.
Rồi cô lấy sợi chỉ thứ hai, đặt một đầu lên chấm Bến Cát Trắng. Cô nhắm mắt nhớ cái ống khói nhà ông Tư Đục. Nghiêng về phía núi, về phía đông bắc, nghiêng tới mức người ta phải chống. Cô kéo sợi chỉ về phía đông bắc.
Hai sợi chỉ gặp nhau.
Ông Lạc cúi xuống, đẩy kính lên sát mắt. Chỗ hai sợi chỉ bắt chéo nằm ở rìa vệt mực đen ghi Thung Ba Lửa. Góc tây bắc của thung.
– Hỏa Khẩu số Ba. – Ông nói.
Nhen không nói gì. Cô nhìn chỗ giao nhau rất lâu. Lệch đi một chút thì sợi chỉ thứ hai đã đi qua núi Đe, lệch chút nữa thì đi vào rừng. Nhưng nó không lệch. Hai đường kẻ từ hai đầu một con sông, một từ cái lò của một bà già, một từ cái ống khói của một ông thợ thổi kính đã chết. Chúng gặp nhau ở đúng cái khe nứt mười bước chân thở theo nhịp chín.
– Cháu tìm cái gì? – Ông Lạc hỏi, rất khẽ.
– Chỗ cái lò được làm ra. – Cô nói.
Ông Lạc không hỏi thêm. Ông đứng thẳng lên, xoa cái lưng mỏi, rồi đi tới một cái giá sách ở góc phòng, lôi ra một quyển sổ đóng bằng dây gai, bìa gỗ mục. Ông lật một lúc.
– Hồi trẻ ta đọc cái này. – Ông nói. – Sổ ghi chuyện vùng núi của người trước. Ở đây có một dòng. "Năm hai nghìn chín trăm lẻ bốn, đất Thung Ba Lửa rung bảy ngày, nứt một khe mới ở góc tây bắc, lửa trắng phụt lên. Ba vạn người dưới xuôi chết vì đất sụt, nước dâng." – Ông gấp sổ lại. – Trước năm đó Thung Ba Lửa chỉ có hai miệng lửa. Cái thứ ba mới hơn cả Vân Lô.
Nhen nhớ câu của sư phụ trên mỏm đá. Có một lần bà nói ra, có người tới đó trước bà, và đất nứt.
– Cảm ơn trưởng lão. – Cô nói.
Đêm mười sáu cô xuống Thung Ba Lửa.
Khải đi cùng. Cô không rủ, cậu ta tự tới, đứng ở cổng tre lúc chạng vạng, thanh kiếm mảnh như sợi chỉ đeo bên hông.
– Cô định đi đâu một mình ban đêm mà mang theo cái kiếm xấu như vậy? – Cậu ta nói. – Tôi đi với cô. Ông nội tôi bảo tôi canh cô. Ông không nói thẳng, mà ý ông vậy.
Trăng mười sáu tròn vành vạnh, sáng tới mức không cần đuốc. Thung Ba Lửa ban đêm vắng tanh. Từ hôm Đan Thí tới giờ, đệ tử Vân Lô chỉ xuống lấy lửa ở số Một, chẳng ai đụng tới số Ba. Bãi đá đen bóng dưới trăng. Cột lửa số Hai gầm đều. Còn ở góc tây bắc, sát chân vách đá, cái khe nứt mười bước chân vẫn thở.
Thở vào. Thở ra. Chín lần ngắn. Một lần dài.
Gần khe, Nhen thấy một thứ cô không ngờ. Chín cây cọc tre cắm thành một vòng quanh miệng khe, cách mép khe chừng hai sải tay. Đầu mỗi cọc buộc một dải lụa trắng, bay phần phật trong luồng hơi nóng.
– Hôm Đan Thí không có cái này. – Khải nói.
– Không có.
Khải nhổ thử một cây. Cọc cắm sâu, chân cọc bọc đồng.
– Lụa trắng. – Cậu ta nói. – Người Vọng Thiên.
Nhen bước qua vòng cọc, tới sát mép khe, quỳ xuống. Hơi nóng phả lên mặt cô như mở cửa lò. Lửa trắng xanh liếm lên ngang ngực rồi tụt xuống sâu hút. Cô chờ cho nó thở ra hơi dài. Trong khoảng lặng sau hơi dài, cô áp mảnh lưu ly lên mắt và cúi nhìn xuống.
Hôm Đan Thí, cô đã nhìn xuống đây. Cô đã thấy lửa chồng lên lửa, trắng rồi xanh rồi trắng, và ở tận đáy là một màu trắng xa thẳm như khi nhìn xuống giếng mà đáy giếng là trời. Hôm đó cô chưa từng nhìn mặt trời qua kính. Hôm đó cô không biết mình đang nhìn cái gì.
Giờ thì cô biết.
Ở tận đáy khe, dưới hết những lớp lửa, là một dải những thanh đen sẫm nằm song song. Đều nhau. Ngang qua một thứ lửa trắng cuộn chậm. Y hệt như những thanh ghi ngang miệng mặt trời.
Cô giữ kính trên mắt cho tới khi lửa lại liếm lên, che mất. Cô hạ kính xuống. Tay cô lạnh ngắt giữa hơi nóng.
– Thấy gì? – Khải hỏi sau lưng.
– Vỉ ghi. – Cô nói. – Đáy lò.
Cô đặt hai bàn tay lên mặt đá đen bóng sát mép khe. Đá nóng rát. Cô không giật tay ra. Cô để cái nóng chui vào lòng bàn tay, đi qua thủy linh lực, đi qua cái nền lưu ly mát lạnh dưới bụng. Và cô cảm thấy nó. Không phải nóng. Một cái kéo. Rất nhẹ, rất sâu, như có một sợi chỉ vô hình buộc vào cái nền trong suốt của cô và kéo nó xuống, xuống, xuống tận đáy khe. Kéo vào. Nhả ra. Kéo vào. Chín lần. Một lần dài.
Như ai đang thở qua một cái lỗ duy nhất.
Cô nhớ ba viên Hồi Mạch đêm mùng sáu, nằm trên lớp tro dược trong lòng Lò Nghiêng. Viên nào cũng có một chấm nhỏ ở đáy hơi phẳng đi, chỗ nó chạm vào đáy lò. Đan nào cũng có chỗ đó. Người đứng lò gọi là rốn đan. Thu đan phải chờ rốn nguội. Nạy vội thì rốn đứt, đan vỡ theo đường rốn.
– Rốn. – Cô nói.
– Cái gì?
– Chỗ đan dính đáy lò. – Nhen nói. Cô đứng dậy, lùi ra khỏi vòng cọc tre. Chân cô run. – Chỗ này. Cả Hoàn Châu dính vào cái lò ở chỗ này. Cái lò của sư phụ nghiêng về đây. Ống khói quê em nghiêng về đây. Lửa ở Thung Ba Lửa, lửa ở Vách Tro, lửa ở núi Đe, chắc là từ đây mà ra.
Khải nhìn cái khe nứt. Rồi cậu ta nhìn chín cây cọc tre buộc lụa trắng.
– Vậy họ cũng biết. – Cậu ta nói.
– Họ biết.
Hai người đứng đó cho tới khi trăng ngả về tây. Không ai nói thêm gì.
Bốn ngày sau Kẽm lên Am.
Nó lên lúc chiều hai mươi, mồ hôi nhễ nhại, hai tay đen sì vì than lò rèn ông Bảy Đe. Nó không ngồi. Nó đứng giữa sân, nhìn hai đường than trên nền đá, nhìn cái bát vỡ, rồi nhìn cô.
– Anh Sáu xuống trấn hôm qua. – Nó nói. – Ảnh kể tui nghe. Xe đồng chuyến sau là chuyến cuối năm nay. Khung sắp xong. Đầu năm sau người ta khiêng Thiên Nhãn lên đặt trên đỉnh Vọng Thiên, chỗ cao nhất trên tường thành, ngay trên Thang Mây.
– Đặt để nhìn mặt trời.
– Đặt để nhìn mặt trời. – Kẽm nói. – Mà thợ cả nói thêm một câu, anh Sáu nghe được. – Nó gãi đầu. Bên trái. – Thợ cả nói, đặt nghiêng một góc cho đúng, để ngày lễ gom hết lửa trời lại một chỗ. Một chỗ thôi. Trên Thang Mây. Chỗ chín người đứng.
– Gom lửa trời lên chín người.
– Thợ cả nói để Thượng Giới thấy mà tiếp dẫn cho dễ. – Kẽm nói. Giọng nó nhỏ hẳn đi. – Mà bà biết không. Hồi nhỏ tui với bà ngồi ngoài bãi, lấy cái đáy chai lưu ly vỡ hứng nắng, đốt kiến.
— Hết chương 23 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe