AI Truyện
Mảnh lưu ly ám khói

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Bát nước lành

Mảnh lưu ly ám khói · Chương 36/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 36: Bát nước lành

Cát Văn Khuôn đổ nắm hạt cườm trời cuối cùng vào cái nồi đất nhỏ, và nghe tiếng hạt lăn lách cách trên đáy nồi, ông ngừng tay một lúc lâu.

– Hũ má con sàng. – Ông nói. – Hết rồi.

Chiều mùng sáu tháng Hai năm ba nghìn sáu trăm lẻ một. Hai năm tròn từ cái chiều lửa trong Lò Nghiêng chuyển sang màu cánh trả sớm hơn sư phụ dặn gần một khắc. Sân Am Lò Nghiêng nắng vàng. Không có sương. Từ đầu xuân tới giờ, ở Vân Lô sáng nào cũng có sương giá, mà trưa nào nắng cũng ấm, một thứ nắng vàng như mật ong mà người trong núi chưa quen, cứ phải nheo mắt.

Cha cô lên Vân Lô lần đầu tiên trong đời. Ông đi thuyền ngược sông ba ngày, rồi leo mấy trăm bậc đá, rồi đứng ở cổng tre thở như ống bễ thủng. Ông mang theo một cái lò nấu nhỏ bằng đất sét, một cái ống thổi bằng sắt, một bó kẹp, và cái hũ sành men da lươn cuối cùng, vai hũ có vết ngón tay cái của mẹ cô.

Ông nhóm lò bằng than ướt, như người ta dạy nhau ở trấn Khói hồi tháng Mười Một. Than ướt cháy chậm, cháy lâu, không bùng.

Hai nửa cái bát mẻ nằm trên mặt phản tre giữa sân, ghép vào nhau.

– Còn thiếu một thứ. – Ông nói. – Hạt cườm trời khó chảy. Hồi xưa ông nội con nấu kính bằng tro rơm. Bỏ một nhúm tro vô thì cát chảy dễ hơn, kính ra trong hơn.

Nhen gật đầu. Cô đi vào nhà. Lúc trở ra, cô cầm trên tay một gói lụa đỏ nhỏ bằng nắm tay.

Cô đã giữ nó suốt mùa đông. Ban ngày để trên bậu cửa sổ gian trong, ban đêm để cạnh gối. Ba tháng rồi mà lúc nào cô cầm lên, nó vẫn còn ấm, một chút, như vừa nằm trong tay người. Cô không biết đó là do tro, hay do tay cô.

Cô mở gói lụa, nhón ra một nhúm tro, nhỏ như nhúm muối người ta nêm nồi canh. Cô thả nó vào nồi đất.

Cha cô không hỏi đó là tro gì. Ông nhìn cô, rồi nhìn gói lụa, rồi cúi xuống thổi bễ.

Hạt cườm trời chảy ra lúc gần tối. Không phải mất hai ngày như năm nào ở Bến Cát Trắng, cần cả cục Hỏa Tủy của Kẽm. Một buổi chiều. Nó chảy ra trong, sánh, màu khói nâu nhạt, y như màu mảnh lưu ly trên cổ cô. Cha cô lấy đầu ống thổi nhúng vào, kéo lên một sợi thủy tinh nóng đỏ mảnh như sợi chỉ. Ông đặt nó lên chỗ mẻ ở miệng bát, rồi kéo nó dọc theo đường nứt, chậm, đều, tay không run, như năm mươi năm ông vẫn kéo viền cho những cái chén lưu ly mười lăm đồng một cái.

Từ chỗ mẻ xuống, qua chỗ gấp khúc đêm mùng sáu tháng Hai, qua chỗ gấp khúc đêm hai mươi chín tháng Hai. Qua đáy, vòng lên phía bên kia, qua cái đoạn cuối cùng toác ra lởm chởm như ai bẻ.

Sợi thủy tinh nóng chảy vào kẽ nứt, lấp kín nó, rồi đông lại. Chỗ mẻ ở miệng bát, ông đắp thêm một giọt, nắn cho tròn, cho bằng với mép bát.

– Giờ ủ. – Ông nói.

Ông đặt cái bát vào cái lò ủ nhỏ Nhen đắp bằng tro trấu và đất sét non từ hôm qua, như cô đắp lò số Ba năm đầu lên núi. Ông đóng cửa lò bằng một miếng đá ong.

– Chín bậc. – Ông nói. – Một đêm.

– Dạ. – Nhen nói. – Con canh.

Đêm đó cô ngồi canh lò ủ ngoài sân. Cha cô ngủ trong gian trong, ngáy khe khẽ. Lò Nghiêng đứng ở góc sân, đúng ba cái vết tròn sẫm màu năm xưa. Mục Trường Thanh cho người khiêng nó về từ hồi tháng Chạp. Nó đứng thẳng. Từ hôm ấy tới giờ, sáng nào cô thức dậy nó cũng đứng thẳng, không nhích đi một sợi tóc. Hai đường than cô vạch trên nền đá đã mờ đi gần hết. Cô không tô lại nữa. Cái nền lưu ly trong bụng cô cũng vậy. Ba vết rạn mảnh như sợi tóc từ cái sáng ở rốn vẫn nằm đó, trong suốt, ba tháng nay không dài thêm một sợi.

Bên cạnh Lò Nghiêng là Lò Lưu Ly, trong suốt, đứng trên ba chân đồng của Kẽm.

Trời tối. Nhen ngẩng lên. Sao đã lên đầy trời.

Ba tháng rồi mà đêm nào cô cũng ngẩng lên như lần đầu. Cả Hoàn Châu cũng vậy. Ở trấn Khói, người ta kê ghế ra trước cửa tiệm ngồi nhìn sao như ngồi hóng mát. Ở Vân Lô, đệ tử ngoại môn trèo lên mái đan đường nằm đếm, bị trưởng lão mắng, hôm sau lại trèo. Trẻ con Bến Cát Trắng không còn đếm vân trời lúc chạng vạng. Vân trời không còn nữa. Giờ chúng đếm sao. Chẳng đứa nào đếm hết được.

Trăng thì cũng có. Một vầng trăng khác, to hơn, vàng hơn, mặt gồ ghề như mặt đá ong, mọc lần đầu sau Đông chí mười mấy ngày. Nó tròn khuyết theo một nhịp riêng, lệch với trăng cũ mấy ngày. Trưởng lão Lạc Văn Khúc ngồi trong Tàng Thư Các từ tháng Chạp tới giờ, làm lại cuốn lịch. Ông bảo ông già rồi, may mà còn kịp làm một việc như vậy.

Khải thì vẫn coi Điện Đèn Hồn. Hết ba năm phạt từ lâu, cậu ta tự xin ở lại. Hôm rằm tháng Chạp, cậu ta với ông Từ Đèn leo lên dãy trên cùng, tắt từng ngọn trong mười một ngọn đèn tổ sư, tắt bằng tay, không thổi, rồi để yên như vậy. Cái thẻ gỗ mun của Cố Lô Nhân, cậu ta đặt lại dưới chân cái đế đồng, mặt có hai chữ "đừng lên" quay ra ngoài. Cậu ta khắc thêm lên kệ một dòng: đèn tắt thì để tắt. Từ Đông chí tới giờ, chưa ngọn đèn nào phải thắp lại.

Kẽm mở lò rèn ở cuối chợ trấn Khói, cạnh lò ông Bảy Đe. Khuất Đồng Hưng gửi xuống trả cái huy hiệu cái đe, nó không lấy, nó gửi lại kèm một con dao rựa nó rèn. Hưng gửi xuống hai đứa mồ côi lớn nhất cho nó dạy nghề. Bên trên cửa lò rèn của nó không treo biển. Chỉ treo cái nồi đồng đầu tiên nó rèn ra ở đó, méo một bên quai. Nó nói để người ta nhớ là cả đời tui rèn dao trong một cái nồi cơm, mà giờ cái nồi đó người ta làm rơi rồi.

Ông Lìu ở Hẻm Thiếc có nhà mới. Kiều Lẫm dựng, tự tay, mái ngói, vách gạch, và đặt lên cái tủ gỗ mới một cái khuôn đồng pha thiếc khắc chín vòng đều nhau. Ông Lìu nhai trầu, nhìn cái khuôn, bảo lão không cần nữa, rồi vẫn cất.

Gần canh hai, có tiếng chân lên dốc.

Ngọc Đài. Cô ta đi một mình, áo đỏ đan đường, tóc buộc một dải lụa đỏ mới. Cô ta đứng ở cổng tre, nhìn cái lò ủ, nhìn Nhen.

– Ta nghe cha ngươi lên. – Cô ta nói. – Ta mang lên cho ông ấy mấy vị thuốc bổ. Cha ta tự sao.

Cô ta ngồi xuống bậc đá cạnh Nhen. Gần thế này, Nhen thấy ấm. Không phải nóng như hồi ở Viện Ôn Dưỡng. Ấm như đứng gần một cái bếp vừa tắt, như cái lần đầu tiên cô đứng gần cô ta ở đại điện.

Đèn của Ngọc Đài ở Điện Đèn Hồn đã vàng lại hẳn từ tháng Giêng, Khải nói, hạt lam ở giữa to như hạt mè. Cô ta vẫn Kết Đan. Thứ đã lên thì không xuống. Nhưng linh hỏa của cô ta đỏ son như cũ, không còn chút trắng nào.

– Thằng Bùi Lưới gửi thư lên. – Ngọc Đài nói. – Nó mua một cái ghe lớn, đánh cá ở cửa sông. Nó nói không trả linh thạch thì nó áy náy, nên tháng nào nó cũng gửi lên Vọng Thiên một gùi cá khô. Các chủ không nhận. Kiều Lẫm nhận rồi đem chia cho thợ.

– Còn Sương?

– Về núi phía nam rồi. Không gửi thư. – Ngọc Đài nói. – Đinh Ngói thì đi theo nó.

Nhen quay sang nhìn cô ta.

– Đi theo?

– Mẹ nó cũng đi. – Ngọc Đài nói, và khóe miệng cô ta nhếch lên. – Mẹ nó nói trên núi không có lò gạch.

Hai người cười. Lò ủ thở chậm bên cạnh.

Ngọc Đài ngồi tới canh ba thì về. Trước khi đi, cô ta đứng ở cổng tre, quay lại.

– Đan đường thiếu người dạy. – Cô ta nói. – Tông chủ muốn ngươi xuống dạy hạ lửa chín bậc. Ta nói ngươi không chịu đâu. Ngươi thích ở cái am này.

– Em chịu. – Nhen nói. – Mà em vẫn ở am này.

Ngọc Đài gật đầu, như đã biết trước, rồi đi.

Gần sáng, Hầu Bảy chạy lên. Nó không đi, nó chạy, như mọi khi, tóc vẫn dựng như bàn chải, nhưng giờ nó đã mười chín tuổi, cao hơn cô nửa cái đầu. Nó đứng ở cổng thở hổn hển.

– Chị! – Nó nói. – Em ngồi ba ngày rồi. Em lên Trúc Cơ rồi!

Nhen đứng dậy.

Sau cái sáng ở Thung Ba Lửa, khi mọi người đã đi hết, cô quay lại tấm chiếu cói chỗ sư phụ ngồi suốt chín ngày. Trên chiếu có một cái hộp gỗ nhỏ. Bà đã để nó lại đó trước khi đứng dậy. Trong hộp là một viên thuốc màu vàng sẫm như sáp ong, sáu vòng. Đưa cho thằng nhỏ đốt lò, bà đã nói trong gian nhà đá ở Vọng Thiên. Nó tầng chín lâu rồi, mà nó nghèo.

Cô đã đưa cho nó hôm rằm tháng Giêng.

– Nền gì? – Cô hỏi.

– Nền đá bùn! – Hầu Bảy nói, mặt sáng rỡ. – Xấu hoắc! Mà chắc lắm chị!

Nó ngồi xuống bậc đá, kể tới lúc trời sáng hẳn. Cô ngồi nghe. Cô nhớ ra là cô chưa bao giờ thấy nó vui như vậy, kể cả cái đêm nó chạy lên báo Tiêu sư huynh qua rồi, ngáy như heo.

Trời sáng, cha cô dậy, mở cửa lò ủ.

Cái bát nằm giữa lòng lò, nguội tới mức cầm tay không. Men nâu, sứt một miếng ở miệng, giờ đã được đắp kín bằng một giọt thủy tinh tròn trịa. Và từ chỗ mẻ ấy, một đường lưu ly màu khói chạy xuống, mảnh như sợi tóc, qua đáy, vòng lên phía bên kia. Đúng chỗ vết nứt. Như ai lấy bút vẽ lại vết nứt bằng một nét mực khói.

Ông bê nó ra, lật qua lật lại dưới nắng, gõ nhẹ bằng móng tay. Tiếng kêu đanh và trong.

– Không giận. – Ông nói.

Nhen cầm cái bát. Cô đi ra giếng Lạnh, múc đầy nước. Nước lạnh buốt. Cô đứng nhìn. Không có giọt nào rỉ ra.

Cô bưng bát nước ra mỏm đá phía đông.

Cô đi theo đường mòn qua lùm sim, qua dải đá ong lổn nhổn sau giếng, lên cái mỏm đá nhô ra khỏi sườn núi như cái lưỡi. Ba tháng nay sáng nào cô cũng ra đây. Không phải để coi lửa. Không còn lửa nào để coi. Cô ra vì quen rồi, như người ta quen đi một con đường.

Mấy hôm trước có một người đứng ở đây trước cô. Một ông già tóc bạc trắng, áo trắng trơn, không gậy. Ông đứng ở đầu mỏm đá, nhìn mặt trời lên. Thấy cô, ông gật đầu chào, không nói gì, rồi đi xuống núi. Khải kể ông đi bộ từ Vọng Thiên xuống, đã đi hết hai tháng, tới từng nhà của bốn mươi mốt người Đăng Vân còn con cháu, ngồi ở hiên nhà người ta mà kể. Đi bộ. Ông không còn ngự kiếm được nữa.

Nhen đặt bát nước xuống mặt đá, ngồi xuống cạnh nó.

Mặt trời nhô lên khỏi dải sương phía đông. Vàng, ấm, chậm.

Cô kéo mảnh lưu ly ám khói ra khỏi cổ áo, áp lên mắt phải, và nhìn thẳng vào nó.

Qua lớp kính màu khói, cái chói dịu xuống. Cô thấy nó. Tròn, như một quả cầu, không phải như một cái miệng. Lửa vàng cuộn chậm trên mặt nó, những đốm sẫm nhỏ trôi lững lờ như tàn tro trên mặt nồi canh. Không có thanh ghi. Không có vung. Không có bóng. Không có gì đằng sau nó cả. Chỉ có trời, xanh, sâu, đi ra mãi.

Chỉ là mặt trời.

Cô hạ kính xuống. Cô nhắm mắt cho đốm trắng trên mắt mờ đi, rồi mở ra.

Cô cầm bát nước lên, uống một ngụm. Nước giếng Lạnh, lạnh buốt tới tận chân răng. Cô đặt bát xuống. Rồi, không biết vì sao, cô ngâm nga. Cô không thuộc cái điệu ấy. Ba năm nghe mỗi tối mà cô chưa bao giờ để ý nó lên xuống thế nào. Cô ngâm nga sai, chỗ trầm chỗ bổng không giống, nhưng cô vẫn ngâm cho tới hết hơi.

Nắng lên cao hơn. Nắng chiếu xuống cái bát đặt trên mặt đá, đi qua đường hàn lưu ly màu khói, và in xuống mặt đá một vệt sáng mảnh như sợi tóc, màu nâu nhạt, chạy từ miệng bát xuống tận đáy.

— Hết —

Mục lục Mảnh lưu ly ám khói

  1. 1Lửa màu cánh trả9 phút
  2. 2Chín vòng trên viên Hồi Mạch10 phút đọc
  3. 3Một cân than10 phút đọc
  4. 4Thằng Kẽm phường thiếc10 phút đọc
  5. 5Vách Tro9 phút đọc
  6. 6Tội danh trên viên thứ ba10 phút đọc
  7. 7Tiệm thuốc họ Nghiêm11 phút đọc
  8. 8Đèn hồn trong Điện Tổ10 phút đọc
  9. 9Ngọn đèn tắt sau chín ngày10 phút đọc
  10. 10Danh sách chín người10 phút đọc
  11. 11Lò lưu ly10 phút đọc
  12. 12Hạt cườm trời10 phút đọc
  13. 13Ba lò ở Thung Ba Lửa10 phút đọc
  14. 14Hỏa Khẩu số Ba10 phút đọc
  15. 15Kẽm cầm búa10 phút đọc
  16. 16Cái lò nghiêng10 phút đọc
  17. 17Trúc Cơ dưới Vách Tro10 phút đọc
  18. 18Mảnh kính và mặt trời10 phút đọc
  19. 19Người coi lửa12 phút đọc
  20. 20Nửa còn lại11 phút đọc
  21. 21Ngọc Đài trên Vọng Thiên11 phút đọc
  22. 22Tông môn chia đôi12 phút đọc
  23. 23Lò Nghiêng chỉ đường10 phút đọc
  24. 24Môn chủ Thiết Hỏa10 phút đọc
  25. 25Đệ tử thứ nhất10 phút đọc
  26. 26Đơn thuốc chín vị11 phút đọc
  27. 27Thoái Hỏa Đan10 phút đọc
  28. 28Lời sư phụ trong ngục9 phút đọc
  29. 29Bát nước mẻ10 phút đọc
  30. 30Ba tông một lò12 phút đọc
  31. 31Ngày Lửa Hạ thứ nhất10 phút đọc
  32. 32Thang Mây gãy11 phút đọc
  33. 33Hai thầy trò một bát10 phút đọc
  34. 34Ủ chín ngày10 phút đọc
  35. 35Hoàn Châu rơi khỏi lò10 phút đọc
  36. 36Bát nước lành11 phút đọc

Về truyện này

Mảnh lưu ly ám khói là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →