Chương 36: Gáo nước vo gạo đầu tiên
Bốn giờ năm mươi hai sáng thứ Ba, sáu tháng Mười, chiếc xe máy thứ tư tắt máy ở cổng sau bếp số hai. Chị bếp phó cầm cái bảng kẹp giấy ghi giờ nhận hàng mà không ngẩng lên, vì chị đã quen.
Đó là chuyến giao thật đầu tiên. Không phải giao thử. Ba trăm hai chục ký bún cho bếp số một, ba trăm ba chục ký cho bếp số hai, bốn lò, tám chiếc xe máy, hai cổng sau của hai nhà máy cách nhau sáu cây số. Thơm đứng ở cổng sau bếp số hai, nhìn chị bếp phó cân từng rổ, mở từng lớp lá chuối, gỡ ra một vắt ở mỗi rổ.
– Đủ. – Chị nói. – Ký đi chị.
Thơm ký. Chữ "Thơm" thẳng.
Cô đứng thêm một chút ở cổng sau bếp số hai. Trời còn tối. Trong bếp, đèn sáng trưng, mấy chục người mặc đồ trắng đội nón trắng đang lặt rau, rửa thịt, bắc mấy cái nồi to như cái lu. Mười một giờ trưa, sáu ngàn công nhân của ba nhà máy sẽ ăn bún riêu, bún thịt nướng. Phần lớn họ không biết bún của ai. Họ sẽ không bao giờ biết. Họ chỉ biết bữa trưa thứ Ba có bún.
Thơm thấy vậy là đủ.
Cô về tới xưởng Bình Chánh cũ lúc năm giờ bốn mươi. Trời đã sáng xám ở phía ruộng rau muống. Sân cỏ may của bà Mười Nhị đã được Hiển với Toàn cắt sạch từ tháng Chín, giờ chỉ còn một khoảng đất trống nện chặt. Cái giàn mưa của ông Giáp đứng ở góc, nước rỉ rả chảy qua mấy tầng tôn đục lỗ.
Có một chiếc xe máy lạ đậu dưới gốc mận. Lực đứng bên cạnh, mặc áo thun ba lỗ, tay cầm cái mũ bảo hiểm. Và trên cái bàn đá cạnh cái giếng, có một cái bếp ga mini, một nồi riêu lớn đang sủi lăn tăn.
Bà Năm Cúc đứng bên nồi riêu, cái muôi nhôm cán dài trong tay.
– Cô Năm! – Thơm dựng xe, chạy lại. – Cô xuống chi tận đây?
– Xuống nấu riêu chớ chi. – Bà Năm nói, không ngẩng lên, tay vẫn khuấy. – Bữa nay con giao bếp nhà máy chuyến đầu. Cô nói với thằng Lực hồi tối, nó chở cô xuống từ ba giờ. Ba mươi mốt năm cô chưa vô tới cái xưởng nào của nhà con. Hẻm bảy mươi hai thì cô đứng tới cửa là cùng. Bữa nay cô vô.
Lực gãi đầu.
– Mẹ tui ngủ có hai tiếng. – Ông ta nói. – Bả nói bả ngủ hai tiếng ba chục năm rồi, có sao đâu. Sạp bữa nay nghỉ một bữa. Ba mươi mốt năm, lần đầu bả nghỉ bán mà không phải đám giỗ.
Thơm đứng nhìn bà Năm. Cô thấy cái tạp dề kẻ ca rô, cái muôi nhôm cán dài. Gạch cua nổi lên thành từng mảng vàng sậm trong nồi, mùi mắm tôm với cà chua chín bốc lên trong cái lạnh hiếm hoi của sáng tháng Mười. Cô nhớ cái sáng ba giờ bốn mươi ở đầu chợ Xóm Lò, hồi tháng Ba, bà Năm khuấy nồi riêu mà không chịu ngó lên, nói "từ mai con khỏi giao nữa nghen Thơm".
– Bún đâu con? – Bà Năm hỏi. – Cô nấu riêu mà không có bún thì cô nấu cho ai ăn?
Thơm chạy vô xưởng. Trong rổ còn mấy chục vắt bún dư của mẻ cuối, chưa chở lên hẻm bảy mươi hai. Cô bưng một rổ ra.
Bà Năm trụng bún, một giây, chan riêu, một vá, một miếng gạch cua, hai lát chả, một nhúm rau. Tô đầu tiên bà đưa cho ông Tám.
Ông Tám ngồi trên cái ghế nhựa đỏ ở hiên, ly trà trong tay trái. Ông đặt ly trà xuống, nhận tô bún bằng hai tay. Tay phải run. Nước riêu trong tô sóng sánh. Bà Năm đứng nhìn bàn tay đó một chút, rồi không nói gì, đi lấy cái khay inox kê dưới tô cho ông.
– Chú Tám ăn đi. – Bà nói. – Bún nhà chú. Riêu của tui.
Ông Tám gắp một đũa. Sợi bún ngà, nhám, quấn lấy mảng gạch cua, nước riêu đỏ thấm vô tới lõi sợi. Ông nhai rất lâu.
– Ừ. – Ông nói.
Chỉ một chữ đó. Bà Năm gật đầu, như người nghe đúng câu mình chờ ba mươi mốt năm, rồi quay lại nồi riêu, múc tô thứ hai.
Bà múc cho Sáu Đẹt, cho chị Lành, cho Toàn mới từ bếp số một về, cho Hiển đang khiêng bao gạo từ trong kho ra. Hiển nhận tô bún, đứng ăn ngay bên đống bao gạo, không ngồi. Bà Năm nhìn nó, không hỏi gì, chỉ múc thêm cho nó một miếng gạch cua.
Bà múc cho bà Mười Nhị, đi chân đất từ nhà ra, tóc bạc búi củ hành. Bà Mười Nhị ăn xong, nói "ngon hơn riêu dưới xóm tui", rồi ngồi luôn dưới gốc mận, không về.
Bà múc cho Trung. Anh chạy xuống từ năm giờ rưỡi, sau khi lấy mười lăm ký ở hẻm bảy mươi hai, nói bữa nay quán mở trễ một tiếng. Anh mặc cái áo thun xám có vết mỡ, đem theo một hộp bánh bò. Trung nhận tô riêu, ngồi xuống bậc thềm, bên cạnh Thơm.
Tô cuối cùng bà múc cho Thơm.
Thơm ngồi trên bậc thềm, tô riêu trên đùi. Cô gắp một đũa. Cô nhai. Bún với nước là một. Cô nhớ cái câu Lực nói ở cái sân sau nhà bà Năm hồi tháng Tư, bị bịt mắt bằng cái khăn rằn. Cô ăn hết tô bún, húp sạch nước, rồi ngồi yên, tô rỗng trên đùi.
Trung không nói gì. Anh để bàn tay trái của mình lên bậc thềm, bên cạnh bàn tay phải của cô. Cô không nhìn xuống. Cô chỉ xích tay qua một chút, tới khi ngón út của cô chạm vô cái vết sẹo dài trên mu bàn tay anh.
Rồi cô để yên đó.
Mười giờ sáng, cái lu mới tới.
Thơm đã mua nó từ tuần trước, ở một vựa lu khạp trên đường Hậu Giang, gần cái nhà hàng tiệc Hoa Viên. Lu sành da lươn, cao tới ngực người, màu nâu sẫm bóng loáng, chưa có một vết trám nào. Cô đi coi ba vựa mới chọn được nó. Cô gõ ngón tay lên thành từng cái lu, nghe tiếng. Cái lu nào gõ lên nghe tiếng "cộc" đục thì cô bỏ qua. Cái này gõ lên nghe tiếng ngân, trong, dài.
Hai người của vựa lu chở nó xuống bằng xe ba gác máy, chạy hơn một tiếng. Sáu Đẹt, Hiển, Trung với Toàn khiêng nó xuống, quấn dây thừng, luồn hai cây đòn tre. Lần này Toàn đi sau, Hiển đi đầu bên phải. Tới cái ngưỡng cửa cao gần một gang tay, Hiển dừng lại, nói "nhấc cao lên", cả bốn người nhấc cao, bước qua. Không ai vấp.
Họ đặt cái lu mới ở góc xưởng phía tây, sát vách, dưới cái cửa sổ nhỏ để chiều có nắng xiên vô.
Cái lu cũ không còn ở đó. Từ cuối tháng Chín, ông Tám đã kêu Hiển khiêng nó ra sân, đặt cạnh cái giếng, dưới gốc mận. Ông không cho ai trám cái lỗ hình con cá. Ông cũng không cho ai đập bỏ. Bà Mười Nhị đổ đất ao vô cái lu thủng, trồng một bụi sả. Bụi sả mọc xanh rì, mấy cọng lá thò ra khỏi cái lỗ hình con cá, như con cá đang ngậm cỏ.
Không ai hỏi cái lu mới để làm gì. Cả xưởng biết rồi. Nhưng không ai hỏi.
Khách ở cửa sổ bán lẻ hẻm bảy mươi hai cũng không ai biết. Chị Lành kể có người hỏi lu bể rồi giờ làm sao, chị nói "thì làm bún", rồi cân bún tiếp. Thơm không đăng gì lên trang của xưởng. Toàn không quay gì hết. Cái hẻm bảy mươi hai thì còn tới cuối tháng Mười Hai. Rồi cái cửa sổ bán lẻ sẽ phải dời đi đâu đó, có khi về cổng chợ Xóm Lò, chỗ góc đường Bà Hom, chỗ hồi tháng Ba cô ngồi bán bốn ký rưỡi dưới cái dù xanh. Bà Năm nói bà để cho cô một góc sạp của bà. Cô chưa trả lời.
Tiền nợ thì còn đó. Cuối tháng Chín cô trả Trung được mười triệu, anh cầm tờ giấy mượn ra, lấy cây bút ghi bên dưới dòng "không tính lãi" một dòng nữa, chữ to: "Còn bốn chục. Không gấp." Tiền của bà Năm với mấy quán trong chợ, cô trả bằng bún từng sáng như bà Năm nói, trừ dần vô sổ hụi của bà, bà cộng trên cái bàn tính gỗ mượn của bà Hai Lựu. Tiền ngân hàng của ba cô thì kỳ tháng Mười đã đóng, đúng ngày. Lần này Thơm đi cùng ba, đứng bên cạnh ba ở quầy, không nói gì, chỉ cầm giùm ba cái túi ni lông có tờ giấy hẹn tái khám tháng Mười Một.
Bốn giờ chiều, giờ múc lu.
Nắng xiên qua cái cửa sổ nhỏ phía tây, đổ thành một vệt vàng trên nền xi măng, ngay chỗ cái lu mới đứng. Cả xưởng đang nghỉ trước giờ lên ca. Sáu Đẹt ngồi ngoài hiên vót một cây chày gỗ mới. Chị Lành ngồi buộc mấy bó dây lác xanh lá non mới nhận từ lò ông Chín Thâu dưới Cần Đước, ngón tay xanh lè vì màu nhuộm. Toàn ngồi làm bài trên cái bàn gỗ dài, cái laptop mở, lần này không mở trang của xưởng. Bà Mười Nhị ngồi dưới gốc mận lặt rau. Hiển đang vác bao gạo cũ của bà Hai Lựu từ trong kho ra bồn ngâm, bao thứ ba, mồ hôi ướt đẫm lưng áo.
Ông Tám ngồi trên cái ghế nhựa đỏ, kéo sát lại cái lu mới.
Thơm đi lại cái khạp da lươn nhỏ của bà Mười Nhị, cái khạp đã giữ nước cái từ cuối tháng Tám. Cô nhấc tấm vải mùng lên. Cô cúi xuống. Mùi chua thanh bốc lên. Dịu, như mùi cơm nguội để qua đêm mà sạch hơn, thanh hơn. Trời bữa nay nắng, khô, gió đồng thổi từ phía ruộng rau muống vô. Đêm nay ngâm một đêm.
Cô múc một gáo nước cái trong cái khạp, đổ vô cái lu mới. Nước đục như nước vo gạo, chảy xuống đáy lu sành mới tinh, kêu một tiếng nhỏ.
Rồi cô bưng cái thau nước vo gạo lại. Nước vo lần thứ hai. Gạo cũ của bà Hai Lựu, để qua một mùa. Hiển vo lúc ba giờ, vo hai lần, đổ nước đầu đi, giữ nước thứ hai, như hồi tháng Ba nó chỉ cho cô.
Cô cầm cái gáo dừa, múc đầy một gáo nước vo gạo.
Ông Tám ngồi bên cạnh, bàn tay trái giơ lên. Ngón cái bấm lên đốt dưới của ngón trỏ.
Không phải ông đếm mẻ. Xưởng chưa lên ca. Không có mẻ nào để đếm. Ông chỉ giơ tay lên, bấm một đốt, như người ta đếm một cái gì đó bắt đầu.
Thơm đổ gáo nước vo gạo đầu tiên vô cái lu mới.
Ở phía sau lưng cô, Hiển đặt bao gạo thứ ba xuống cạnh bồn ngâm, quay lại kho vác bao thứ tư.
— Hết —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe