Chương 27: Lu nứt
Ca đêm cuối cùng ở hẻm bảy mươi hai xong lúc ba giờ hai mươi sáng Chủ Nhật, mười sáu tháng Tám, và không ai chịu xịt nền.
Sáu Đẹt cầm cái vòi nước đứng giữa xưởng, nhìn lớp bột trắng loang trên nền xi măng, rồi đặt cái vòi xuống. Chị Lành ngồi trên đống bao gạo, hai tay ôm đầu gối. Toàn đứng ở cửa, điện thoại cầm trên tay mà không quay. Ông Tám ngồi trên cái ghế nhựa đỏ, ly trà trong tay trái.
– Xịt đi anh Sáu. – Thơm nói. – Mình trả mặt bằng sạch.
– Dạ. – Sáu Đẹt nói. Anh cầm vòi lên lại.
Ba tuần qua, cái lò của bà Mười Nhị ở Bình Chánh cũ đã thành một cái xưởng. Anh Lợi xuống làm hai cái bể lắng ba ngăn theo đúng hình ông Giáp vẽ lần thứ hai, lần này trên mặt sau tờ lịch tháng Tám. Ông Giáp đi theo xuống, đứng la "từ từ, để tui đo độ dốc" y như hồi tháng Tư. Trung mượn được một chiếc xe tải nhỏ của người quen chở hàng ở chợ đầu mối, chở hai chuyến bồn ngâm, cối xay đá, kệ rổ, bao gạo. Cái máy ép inox thì thuê thợ tháo ra, chở đi, ráp lại. Bà Mười Nhị đứng coi suốt, đi chân đất, nói "ồn ào vậy mới giống cái lò". Sáu Đẹt với chị Lành trả căn phòng trọ mười hai mét vuông ở đầu hẻm chín mươi, thuê một phòng trong dãy trọ ở xóm bên, đi bộ tới xưởng mới năm phút.
Ca vừa xong là ca cuối ở đây. Đêm nay ca đầu ở dưới kia. Gạo cho đêm nay Thơm đã dặn anh Lợi, ngủ lại xưởng mới, đổ vô bồn ngâm lúc sáu giờ sáng. Ngâm bằng nước giếng, hứng ra bồn từ tối thứ Bảy cho lắng.
Cô đã nghĩ tới chuyện đó cả tuần. Ở hẻm bảy mươi hai, nước máy chảy vô cái bồn chứa trên gác, nằm đó nguyên ngày rồi mới xuống bồn ngâm. Ở đây chưa có bồn chứa, nước máy ra thẳng từ vòi, còn nồng mùi thuốc khử trùng. Cô nhớ trong giáo trình năm hai có một dòng nói chất khử trùng trong nước máy có thể làm chậm quá trình lên men. Còn nước giếng thì bà Mười Nhị nói ông nhà bà tráng bánh tráng ba chục năm bằng nó. Cô múc một ly nước giếng lên ngửi, có mùi đất, hơi tanh. Cô nghĩ hứng ra để lắng một đêm là được. Cô không hỏi ba. Ba nói ba đứng ngoài.
Năm giờ sáng, giao xong chuyến cuối, cả xưởng bắt đầu dọn.
Những thứ còn lại không nhiều. Mấy cái chảo. Cái bàn gỗ dài, cái bàn Thơm thuộc từng vết dao. Mấy chục cái rổ tre. Cái cối gỗ sao vẫn nằm trên cái giá cạnh chảo lớn, từ đêm cúp điện tới giờ không ai đưa lên xà lại.
– Cái cối thì sao chú? – Sáu Đẹt hỏi. – Dưới kia có xà, tui gác lên được.
Ông Tám nhìn cái cối một lúc.
– Để dưới. – Ông nói. – Lên xà là để quên.
Sáu Đẹt gật đầu, gọi Trung lại khiêng.
Tám giờ sáng, ông Bảy Huôn chống gậy vô tới cửa xưởng lần cuối. Ông không khóc nữa. Ông đem theo một bịch chuối sứ, đưa cho ông Tám, giống bà Năm đưa bịch cam đêm rằm tháng Giêng.
– Tụi bây đi thì đi. – Ông nói. – Mà lâu lâu về, vô nhà tao uống trà.
– Dạ, em về.
– Mày nói vậy chứ mày không về đâu. – Ông Bảy nói, cười khà, rồi quay đi. Đi được mấy bước ông dừng lại, không quay đầu. – Hai ngàn lẻ sáu con Hạnh khiêng đá đổ cái nền này. Mày nhớ nói với con Thơm.
– Dạ, con biết rồi ông Bảy. – Thơm nói từ trong xưởng.
Ông Bảy gật đầu, đi tiếp, cây gậy tre gõ lộc cộc trên mấy tấm đan bê tông.
Con mèo mướp nhà bên ngồi trên bờ tường, nhìn người ta khiêng đồ. Ông Tám đem cái chén nhựa ông hay đút cơm cho nó sang gõ cửa nhà bên, đưa cho bà chủ nhà, dặn sáng một chén, tối một chén, đừng cho ăn xương cá. Bà chủ nhà nhìn ông như nhìn người lạ, rồi cầm cái chén.
Mười giờ, chỉ còn cái lu.
Ông Tám đứng trước nó, như mọi chiều. Ông dỡ cục đá, đặt xuống nền. Nhấc tấm ván gỗ me. Mùi chua thanh bốc lên. Thơm đứng bên cạnh ba, nhìn xuống lòng lu. Mặt nước nằm ngay vết xước, đúng mực.
– Múc ra mấy thùng không ba? – Cô hỏi. – Lu đầy nước thì nặng lắm.
Ông Tám lắc đầu.
– Múc bớt một nửa. – Ông nói. – Đổ vô cái thùng có nắp. Còn một nửa để trong lu. Cặn dưới đáy đừng khuấy.
Thơm múc. Cô múc từng gáo, đổ vô cái thùng nhựa xanh có nắp vặn. Hai mươi gáo. Ba mươi gáo. Tới khi mặt nước tụt xuống ngang con cá xi măng ở hông lu, ông Tám nói "đủ". Cô vặn nắp thùng lại. Cái thùng đặt lên xe tải trước, chèn giữa hai bao gạo.
Rồi bốn người đàn ông khiêng cái lu.
Sáu Đẹt, Trung, anh Lợi, và Toàn. Họ quấn hai vòng dây thừng quanh bụng lu, luồn hai cây đòn tre qua, mỗi người một đầu đòn. Ông Tám đứng bên, không đụng tay vô, chỉ nói. Nhấc lên từ từ. Đừng nghiêng. Đi chậm. Cái lu sành da lươn cao tới ngực người rời khỏi cái chỗ nó đứng hai mươi năm, để lại trên nền xi măng một cái vòng tròn sẫm màu, ẩm ướt, như dấu chân của một con vật lớn.
Thơm nhìn cái vòng tròn đó. Cô không ngờ nó lớn vậy.
Bốn người khiêng cái lu đi dọc hẻm bảy mươi hai, từng bước một, trên ba mươi bốn tấm đan bê tông. Người trong hẻm đứng ra cửa nhìn. Bà Tư nước mía tắt máy ép mía. Ông Năm sửa xe đứng dậy khỏi cái ghế đẩu. Không ai nói gì. Cái lu đi qua như một cái gì đó người ta không biết nên gọi tên ra sao.
Ở đầu hẻm, có một người lạ đứng nhìn. Áo thun có in tên một công ty trên ngực, đội nón kết, tay cầm điện thoại giơ lên quay. Thơm nhận ra cái tên công ty trên áo. Cùng cái tên trên lá thư Cường đưa. Người đó không nói gì, không cười, chỉ quay, như người ta quay để báo cáo.
Thơm nhìn anh ta. Anh ta hạ điện thoại xuống, quay đi.
Bốn người đặt cái lu lên thùng xe tải, chèn bao gạo bốn phía, buộc dây. Xe chạy chậm, Trung lái, Sáu Đẹt ngồi trên thùng xe ôm cái lu. Thơm chở ba bằng xe máy chạy theo sau. Hai mươi hai phút thành bốn mươi phút.
Mười một giờ rưỡi, xe tới cái lò của bà Mười Nhị.
Bà Mười Nhị đứng chờ ở đầu con đường đất đỏ. Ông Giáp cũng ở đó, từ sáng, nói để coi người ta đặt cái lu có đúng chỗ bằng phẳng không. Thơm đã chọn chỗ cho cái lu từ tuần trước. Đó là góc phía tây của xưởng mới, sát vách, gần bồn ngâm, dưới một cái cửa sổ nhỏ để chiều có nắng xiên vô, giống y cái góc ở hẻm bảy mươi hai.
Bốn người khiêng cái lu xuống khỏi xe. Họ đi từ sân vô xưởng, qua cái ngưỡng cửa cao gần một gang tay, cái ngưỡng cửa cũ của lò bánh tráng mà không ai để ý.
Anh Lợi đi đầu bên trái. Anh bước qua cái ngưỡng cửa. Toàn đi đầu bên phải, bước sau anh nửa nhịp. Chân Toàn vấp vô cái ngưỡng cửa.
Thằng nhỏ không té. Nó chỉ chúi người tới, một tay buông khỏi cây đòn để chống. Đầu đòn bên phải sụt xuống một gang tay. Cái lu nghiêng. Sáu Đẹt la "giữ!", Trung ghì cây đòn lại, cái lu không đổ. Nhưng cái đáy lu, trong lúc nghiêng, đã chạm xuống mép cái ngưỡng cửa bằng gạch.
Tiếng chạm không lớn. Một tiếng "cộc" đục, như người ta gõ ngón tay lên cái chum rỗng.
Bốn người đứng im, giữ cái lu lơ lửng. Không ai thở.
– Đặt xuống. – Ông Tám nói. – Từ từ.
Họ đặt cái lu xuống nền xi măng, ngay giữa cửa xưởng, chưa tới cái góc phía tây. Cái lu đứng thẳng. Mặt nước trong lu chao một cái rồi phẳng lại.
Thơm thở ra.
Rồi cô nghe tiếng nước.
Không phải tiếng nước trong lu. Tiếng nước nhỏ giọt, rồi chảy, rỉ rả, ở hông lu. Cô đi vòng qua. Ở hông lu, chỗ cái vết trám xi măng hình con cá đã ngả màu xám xanh, có một đường nứt nhỏ như sợi chỉ mới mở ra, chạy đúng theo đường viền của con cá, từ đầu tới đuôi. Nước cái ri rỉ chảy ra từ sợi chỉ đó, đục như nước vo gạo, có mùi chua thanh, loang xuống nền xi măng mới.
– Lấy thau! – Chị Lành la. – Lấy thau hứng!
Toàn chạy đi lấy thau. Sáu Đẹt lấy hai bàn tay bịt lên đường nứt. Nước chảy qua kẽ ngón tay anh. Thơm quỳ xuống bên cạnh anh, lấy cái khăn trên vai áp lên con cá xi măng, đè chặt.
Đường nứt dài thêm. Nó không dài thêm theo hướng khác. Nó chỉ chạy theo đúng con cá, như con cá đang vẫy đuôi, rồi bơi ra khỏi cái hông lu. Tiếng nước từ rỉ rả thành róc rách. Rồi cả một mảng sành hình con cá, to bằng bàn tay, rời ra khỏi hông lu, rơi xuống nền, vỡ đôi.
Nửa lu nước cái còn lại đổ ào ra qua cái lỗ hổng hình con cá. Nó tràn lên đầu gối Thơm, lên chân Sáu Đẹt, chảy thành một vũng trắng đục trên nền xi măng. Rồi nó chảy theo mấy đường nứt cũ của nền, chảy ra phía cửa, chảy xuống cái sân cỏ may của bà Mười Nhị. Mùi chua thanh tràn ngập cái xưởng mới.
Cái thau Toàn đem tới không kịp hứng được gì.
Thơm quỳ trong vũng nước, cái khăn ướt sũng trong tay. Cô nhìn cái lu. Cái lu vẫn đứng, nhưng hông nó có một cái lỗ hình con cá, nhìn vô thấy được lòng lu bên trong, cái vết xước ngang chỗ mực nước chuẩn giờ nằm trơ trọi, khô ráo. Dưới đáy lu còn một lớp cặn trắng đục, sền sệt.
Cô quay lại nhìn ba.
Ông Tám đứng ngoài sân, sát cái ngưỡng cửa cao gần một gang tay. Ông không chạy lại. Ông không la. Ông nhìn cái lu, nhìn vũng nước, nhìn mảng sành hình con cá vỡ đôi trên nền, và mặt ông không đổi.
Toàn đứng bên cạnh cái thau rỗng, mặt trắng bệch, môi run.
– Ba… con xin lỗi ba… con vấp…
Ông Tám bước qua cái ngưỡng cửa, đặt bàn tay trái lên vai thằng con trai. Chỉ đặt. Rồi ông quay ra, bước qua cái ngưỡng cửa lần nữa, đi về phía cây mận già.
Ông đứng bên cái giếng của bà Mười Nhị, dở cái nắp tôn ra, nhìn xuống mặt nước tối dưới đáy.
Thơm đứng dậy. Nước cái nhỏ từ ống quần cô xuống nền. Cô nghĩ tới cái thùng nhựa xanh có nắp vặn, đang nằm trên thùng xe tải, chèn giữa hai bao gạo. Ba mươi gáo. Nửa lu. Nó còn đó. Nó còn đủ cho mẻ đầu tiên.
Gạo cho mẻ đầu tiên ở cái xưởng này đã ngâm bằng nước giếng từ sáu giờ sáng. Đêm nay mười giờ, lên ca.
— Hết chương 27 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe