Chương 1: Ba giờ bốn mươi ở đầu chợ Xóm Lò
– Từ mai con khỏi giao nữa nghen Thơm.
Bà Năm Cúc nói câu đó mà tay vẫn không ngừng khuấy nồi riêu. Cái muôi nhôm cán dài gõ vô thành nồi từng tiếng đều đều. Gạch cua nổi lên thành từng mảng vàng sậm, mùi mắm tôm với cà chua chín bốc lên trong cái lạnh hiếm hoi của ba giờ bốn mươi sáng.
Thơm còn ôm cái rổ tre trên tay. Hai chục vắt bún xếp lớp trên lá chuối, vắt nào cũng buộc một sợi dây lác nhuộm xanh, nút thắt kiểu con bướm, hai tai bằng nhau. Cô đứng yên một lúc, tưởng mình nghe lộn vì tiếng xe rác vừa chạy ngang đầu chợ.
– Dạ, cô Năm nói sao?
– Cô nói từ mai con khỏi đem bún qua. – Bà Năm vẫn không ngó lên. – Bữa nay cô lấy, cô trả tiền đàng hoàng. Mai thì thôi.
Thơm đặt cái rổ lên băng ghế inox, chỗ bà Năm vẫn đặt suốt mấy chục năm. Cái băng ghế có một vết lõm ở giữa, ngay chỗ đáy rổ bún tì vô mỗi sáng. Ba cô hay nói vết lõm đó là của nhà mình, ai muốn ngồi thì ngồi chỗ khác.
– Bún con bữa nay bị gì hả cô?
– Bún con có bị gì đâu.
Bà Năm tắt bớt một bếp, chùi tay vô cái tạp dề kẻ ca rô, rồi mới chịu nhìn Thơm. Mắt bà đỏ, không biết vì khói hay vì thức sớm.
– Bên nhà máy Hòa Lộc người ta cho cô ba tháng bún không tiền. Không tiền, con hiểu không? Cho mượn luôn cái tủ mát. Ba tháng, ngày năm chục ký. Thằng Lực nó ký rồi.
Thằng Lực là con trai bà, đứng tên sạp. Thơm biết thằng Lực đang nợ tiền mặt bằng ban quản lý chợ từ hồi trước Tết. Cô cũng biết năm chục ký nhân mười lăm ngàn, nhân chín chục ngày, ra một con số mà một quán bún riêu đầu chợ không dễ gì nói không.
– Dạ, con hiểu.
– Đừng nói với ba con là cô… – Bà Năm ngừng, lắc đầu. – Thôi, con cứ nói. Ba mươi mốt năm rồi, cô nợ ổng một câu giải thích. Chiều cô ghé.
Thơm gật. Cô đếm tiền bà Năm đưa, ba trăm ngàn chẵn, xếp vô cái bóp đeo ngang hông, rồi dắt xe ra. Rổ bún nằm lại trên băng ghế, hai mươi sợi dây xanh dưới bóng đèn tuýp.
Mối thứ hai rụng lúc bốn giờ mười. Chú Tư Ngộ bán bún bò trên xe đẩy ở ngã ba Bà Hom, đứng chờ sẵn ngoài lề, chưa đợi Thơm tắt máy đã nói luôn:
– Bữa nay chú lấy mười ký thôi con. Tuần sau chú thử bên kia.
Mối thứ ba là xe bún thịt nướng của anh Phát. Anh không nói gì hết, chỉ đưa cho Thơm coi tờ giấy in màu có cái logo bông lúa vàng trên nền xanh lá, dòng chữ "Hòa Lộc Phát – bún tươi sạch, giữ được ba ngày".
– Ba ngày á anh?
– Ba ngày. – Anh Phát gãi đầu. – Bún em để tới trưa là chua, anh bỏ hoài. Bên này ba ngày, giá rẻ hơn em ngàn rưỡi, ba tháng đầu cho không. Em là anh, em lấy hông?
Thơm không trả lời được. Cô biết bún nhà mình chua tới trưa là đúng. Bún gạo ngâm ủ, không pha thứ gì, thì nó phải chua. Ba cô nói bún không chua là bún chết. Nhưng câu đó không bán được cho ai lúc bốn giờ sáng.
Sáu giờ kém mười lăm, Thơm chạy xe về đầu hẻm bảy mươi hai. Hẻm này hẹp tới mức hai chiếc xe máy gặp nhau thì một chiếc phải dắt. Cuối hẻm là bờ rạch Xóm Lò, nước đen lừ, có mấy bụi lục bình trôi lờ đờ. Xưởng bún nằm sát bờ rạch, mái tôn, nền xi măng, một trăm bốn chục mét vuông, đất của ông Bảy Huôn cho thuê từ năm hai ngàn lẻ sáu.
Hơi nước vẫn còn bốc lên từ mấy cái chảo lớn. Sáu Đẹt đang xịt nước rửa nền, ống quần xắn tới gối. Chị Lành, vợ anh, ngồi chồm hổm buộc mấy bó dây lác mới, ngón tay xanh lè vì màu nhuộm. Thằng Hiển, em họ Thơm, nằm dài trên mấy bao gạo rỗng, điện thoại sáng xanh trên mặt.
Còn ba cô, ông Tám Rạng, đứng ở góc xưởng, bên cái lu.
Cái lu sành da lươn cao tới ngực người, miệng đậy một tấm ván gỗ me có cục đá đè lên. Hông lu có một vết nứt trám xi măng từ đời nào, xi măng đã ngả màu xám xanh, và vết trám ngoằn ngoèo y như hình con cá đang vẫy đuôi. Hồi nhỏ Thơm hay lấy ngón tay rà theo con cá đó, rồi bị ba khẻ tay.
Ông Tám dỡ cục đá, nhấc tấm ván, múc ra một gáo. Nước trong lu đục như nước vo gạo, có mùi chua dìu dịu, giống mùi cơm nguội để qua đêm nhưng sạch hơn, thanh hơn. Ông đổ gáo nước đó vô bồn ngâm gạo đêm nay, rồi múc một gáo nước vo gạo mới từ cái thau bên cạnh, đổ lại vô lu. Một gáo ra, một gáo vô. Ba mươi mấy năm nay, chiều nào cũng vậy. Có điều bữa nay ông làm lúc sáng, vì chiều nay ông phải ra chợ gạo.
Khách hay hỏi bún nhà Tám Rạng có bí quyết gì, ba Thơm chỉ tay vô cái lu: "Nước cái đó. Từ năm chín mươi ba." Rồi thôi, không nói thêm.
– Mấy mối? – Ông hỏi, không quay lại.
– Bốn mươi mốt mối, còn ba mươi tám. Cô Năm, chú Tư Ngộ, anh Phát.
Cái gáo dừng trên miệng lu một giây.
– Chị Năm cũng đi?
– Dạ. Thằng Lực ký với Hòa Lộc. Ba tháng không tiền, cho mượn tủ mát. Cô Năm nói chiều cổ ghé.
Ông Tám đậy ván, đặt cục đá lên. Ông là người ốm, đen, hai cánh tay toàn gân, vai hơi lệch vì ba chục năm vác bao gạo bên một bên. Ông không nói gì, đi lại cái bàn gỗ dài giữa xưởng, nơi mấy nắm bột luộc sơ còn úp dưới tấm vải mùng, lấy một nắm lên bóp. Cái bàn đó Thơm thuộc từng vết dao. Bên trên nó, gác ngang trên hai cây xà, là cái cối ép bún bằng gỗ đầu tiên của nhà. Cái cối đó ba với má cô đẽo năm chín mươi ba, giờ đóng một lớp bụi dày mà không ai chịu dẹp.
– Hiển. – Ông Tám kêu. – Dậy coi bồn gạo.
Hiển bật dậy nhanh hơn thường lệ. Nó hai mươi bốn tuổi, ở xưởng từ năm mười sáu, là con dì Hoa, em ruột của má Thơm. Nó lanh, nói nhiều, đứng máy giỏi chỉ sau Sáu Đẹt. Từ hồi trước Tết, nó hay ngồi bấm điện thoại tới khuya, mặt lúc nào cũng như vừa mất ngủ. Thơm tưởng nó có bồ.
– Chị Thơm, Hòa Lộc là cái nhà máy dưới Lê Minh Xuân phải hông? – Hiển hỏi, vừa xắn tay áo vừa liếc Thơm. – Em nghe nói bên đó máy móc ghê lắm. Bún ra một ngày mấy tấn.
– Ừ.
– Vậy thì chịu sao nổi. – Nó cười, như nói đùa, rồi đi lại bồn gạo.
Thơm không cười. Cô ngồi xuống cái ghế nhựa đỏ ở đầu bàn, lôi điện thoại ra mở bảng tính. Từ năm má cô mất, chuyện tiền bạc của xưởng là cô coi. Cô bỏ dở năm ba ngành công nghệ thực phẩm năm mười chín, vì má yếu, xưởng thiếu người giao bún. Rồi tới tháng bảy năm hai mươi thì má đột quỵ sau một ca đêm, không kịp nói câu gì. Từ đó Thơm giao bún, thu tiền, mua dây, trả lương, còn đứng máy thì ba không cho.
Bốn mươi mốt mối, sáu trăm rưỡi ký một đêm. Ba mối vừa rụng ăn tổng cộng tám chục ký. Tám chục ký nhân mười lăm ngàn là một triệu hai một ngày, ba mươi sáu triệu một tháng. Tiền thuê đất chín triệu, lương ba người hai mươi tám triệu, tiền gạo, tiền điện, tiền ga, rồi tháng nào ba cũng ra ngân hàng một lần mà không cho cô đi theo. Cô làm phép tính tới đó thì dừng.
Chiều, bà Năm không ghé. Người ghé là một người đàn ông lạ.
Anh ta tới lúc bốn giờ chiều, khi nắng xiên qua mấy lỗ thủng trên mái tôn, đổ thành từng vệt vàng trên nền xi măng ướt. Ba mươi mấy tuổi, áo sơ mi xanh nhạt bỏ thùng, giày tây, đứng ở cửa xưởng mà không bước vô vì sợ dơ giày. Chiếc ô tô trắng đậu ngoài đầu hẻm, không vô được.
– Em chào chị. Cho em mua một ký bún được hông chị?
– Giờ này hết bún rồi anh. Bún nhà em bán sáng.
– Vậy chị cho em xin một vắt dư cũng được. Em trả tiền nguyên ký.
Thơm nhìn anh ta. Ở chợ Xóm Lò không ai mặc áo bỏ thùng đi mua một ký bún lúc bốn giờ chiều. Cô lấy một vắt trong rổ bún dư của ca trước, bỏ vô bịch ni lông, đưa cho anh ta. Anh ta không cầm bịch về mà mở ra ngay, gỡ sợi dây xanh, bứt một nhúm bún bỏ vô miệng. Anh ta nhai chậm, mắt lim dim, như người ta nếm rượu.
– Chua. – Anh ta nói. – Chua đúng chỗ. Bên em chưa ra được cái chua này.
– Anh là…?
Anh ta móc trong túi áo ra tấm danh thiếp, hai tay đưa. Tấm danh thiếp nền trắng, góc trên có cái logo bông lúa vàng.
Lã Minh Khoa. Giám đốc kinh doanh. Công ty cổ phần thực phẩm Hòa Lộc Phát.
– Em không giấu chị. – Khoa nói, giọng ngọt, chậm, như người đã nói câu này nhiều lần. – Em làm ăn sòng phẳng. Bên em không muốn đánh nhau với lò nhỏ. Thị trường thì mỗi năm một khác, chị cũng thấy. Em tới hỏi chú Tám một chuyện thôi. Chú Tám có nhà không chị?
Ông Tám đã đứng sau lưng Thơm từ lúc nào. Ông không mời Khoa vô. Ông đứng giữa cửa, hai tay chống hông, chiếc áo thun ba lỗ ướt đẫm mồ hôi.
– Hỏi gì?
– Dạ con chào chú. – Khoa cúi đầu, lễ phép không chê vào đâu được. – Con nghe nói xưởng mình có cái lu nước cái từ năm chín mươi ba. Con hỏi thẳng, chú bán cái lu đó bao nhiêu?
Ngoài bờ rạch, một con vịt xiêm kêu khàn khàn. Sáu Đẹt đang cào bột trong chảo, cái cào gỗ dừng lại giữa chừng.
– Không bán. – Ông Tám nói.
– Dạ, con biết chú sẽ nói vậy. – Khoa cười, không phật lòng chút nào. – Con không hỏi cái lu không. Con hỏi luôn cái tên Tám Rạng, máy móc, mối hàng, và chú về bên con dạy nghề một năm. Giá chú cứ nói.
– Mày về đi.
Khoa không về liền. Anh ta cúi xuống đặt tấm danh thiếp thứ hai lên cái băng ghế ngay cửa xưởng, lấy cục đá nhỏ chặn lên cho khỏi bay. Rồi anh ta nói với Thơm, chứ không nói với ông Tám:
– Chị giữ giùm em cái số. Không gấp đâu chị. Tháng sau chú Tám sẽ tự gọi em.
Anh ta cầm bịch bún đi ra đầu hẻm, cẩn thận bước qua mấy vũng nước, giày tây không dính một giọt.
Thơm cầm tấm danh thiếp lên. Mặt sau có một dòng chữ viết tay bằng mực xanh, nét chữ nghiêng đều: "Ba tháng."
Cô quay lại định hỏi ba. Ông Tám đã đi về góc xưởng, đứng trước cái lu, hai bàn tay úp lên tấm ván gỗ me, im lìm. Ông đứng như vậy lâu tới mức Sáu Đẹt phải kêu hai lần mới nghe.
Tối đó, lúc mười giờ, khi xưởng bắt đầu lên ca, ông Tám đứng ở đầu máy ép như mọi đêm, ngón cái tay trái bấm lên đốt dưới ngón trỏ. Mỗi mẻ bún ra là ông bấm một đốt, ba đốt một ngón, từ ngón trỏ qua ngón út, mười hai đốt là mười hai mẻ, hết một vòng thì quay lại. Ba chục năm ông đếm mẻ kiểu đó, không cần giấy, không cần đồng hồ. Thơm đứng ở cửa nhìn ba, tính phải nói chuyện ba tháng. Rồi cô thôi.
Cô không biết đó là đêm cuối cùng ba cô còn đủ mười hai đốt để đếm.
— Hết chương 1 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe