Chương 14: Cối ép trên xà nhà
Hai giờ ba mươi lăm sáng thứ Bảy, cả xóm Lò tắt đèn cùng một lúc, và trong cái im lặng đột ngột đó, Thơm nghe rõ tiếng con thạch sùng tặc lưỡi trên mái tôn.
Rồi cô nghe tiếng chị Lành la:
– Trời đất ơi, cúp điện!
Máy ép inox đang chạy ngừng phựt. Mô tơ tắt, trục vít đứng im, sợi bún đang chảy dở dưới khuôn đứt ngang, rơi xuống chảo. Cái quạt hút trên mái quay chậm dần rồi dừng. Chỉ còn ánh lửa xanh dưới ba cái chảo ga và cái đèn sạc nhỏ treo ở cửa kho tự bật lên, sáng vàng vọt.
Thơm đứng im giữa xưởng, cái vợt tre trong tay. Cô nhìn đồng hồ trên điện thoại. Hai giờ ba mươi lăm. Cô nhìn mấy cái thau bột nhồi xếp hàng trên cái bàn gỗ dài. Một trăm năm chục ký bún cho ba tiệc cưới trưa nay ở nhà hàng tiệc Hoa Viên trên đường Hậu Giang. Bốn chục ký bánh hỏi. Tất cả đang nằm trong mấy cái thau đó, dưới tấm vải mùng, chưa ép.
Cái đơn đó tới từ bà Út Mai. Thằng cháu bà làm quản lý nhà hàng Hoa Viên, chỗ đãi tiệc cưới lớn nhất vùng Phú Lâm. Người làm bánh hỏi quen của nhà hàng bị té gãy tay hôm thứ Hai. Bà Út Mai nghe vậy, nói với thằng cháu: "Mày qua xưởng Tám Rạng, con nhỏ đó làm bánh hỏi đẹp như má nó." Thơm nhận đơn chiều thứ Tư, năm triệu hai tiền hàng, đơn lẻ lớn nhất xưởng từng nhận. Cô làm bánh hỏi mới được một tháng, từ ngày lấy cái khuôn của má xuống, bán ở cổng chợ mỗi chiều với Toàn, đám giỗ có người đặt thì làm. Chưa bao giờ làm bốn chục ký.
Đêm nay xưởng lên ca từ tám giờ tối, sớm hơn thường lệ hai tiếng. Ba mươi mối thường ngày đã ép xong lúc hai giờ, chất trong rổ, chờ Toàn với Trung chở đi. Giờ là phần của tiệc cưới.
– Bao lâu có điện lại? – Thơm hỏi, không hỏi ai cụ thể.
Toàn đã cầm điện thoại, bấm số tổng đài điện lực, nghe xong thì nói:
– Sự cố trạm biến áp. Đang cử người xuống. Dự kiến bốn tới sáu tiếng.
Bốn tới sáu tiếng. Thơm tính nhẩm. Sáu giờ rưỡi có điện, ép bằng máy tới tám giờ rưỡi, chở lên Hậu Giang chín giờ, bánh hỏi phải vắt từng lớp trên lá chuối rồi hấp, mười giờ mới xong. Tiệc đầu tiên mười một giờ. Không kịp. Mà nếu điện có lúc tám giờ thì sao.
– Bột để vậy được bao lâu ba? – Cô quay qua ông Tám.
Ông Tám đang ngồi trên ghế nhựa đỏ, không đứng dậy, mắt nhìn lên mái tôn.
– Bột nhồi rồi để quá hai tiếng là chua, nở, ép ra sợi bở. – Ông nói. – Không đợi được.
– Vậy làm sao?
Ông Tám không trả lời. Ông vẫn nhìn lên mái tôn. Thơm nhìn theo mắt ba.
Trên hai cây xà ngang, phủ một lớp bụi dày, là cái cối ép bún bằng gỗ.
– Thằng Sáu. – Ông Tám nói. – Kiếm cái thang.
Sáu Đẹt đã đi lấy thang trước khi ông nói hết câu.
Cái cối nặng hơn Thơm tưởng. Sáu Đẹt đứng trên thang, Trung đứng dưới đỡ, hai người hì hục mười phút mới đưa được nó xuống. Đêm nay Trung tới xưởng từ hai giờ, vì anh hứa phụ chở đơn lớn. Thấy cúp điện, anh cởi áo khoác treo lên đinh, xắn tay áo, nhắn đứa phụ quán là sáng nay nghỉ bán, ở lại luôn, không ai bảo. Toàn rọi đèn pin. Chị Lành lau bụi.
Dưới lớp bụi, cái cối hiện ra. Đó là một cái ống bằng gỗ sao, to bằng cái thùng sơn, cao chừng gang rưỡi, ngoài bọc hai vòng đai sắt đã gỉ sét. Đáy ống là một cái khuôn đồng tròn, đục mấy trăm cái lỗ nhỏ, bám đầy bột khô đen sì. Bên trong ống có một cái chày gỗ tròn vừa khít, gắn vô một cây đòn dài gần hai mét bằng gỗ cà chít. Đầu kia của cây đòn có một cái chốt sắt để gắn lên cái giá.
– Cái giá đâu chú? – Sáu Đẹt hỏi.
– Trong kho. Sau mấy bao gạo cũ. – Ông Tám nói. – Từ hồi dời về đây chưa ai lấy ra.
Cái giá là hai cây cột gỗ chôn vô một cái đế bê tông, nằm khuất sau đống bao gạo rỗng, mạng nhện giăng đầy. Sáu Đẹt và Trung khiêng nó ra, đặt cạnh cái chảo lớn nhất. Sáu Đẹt gắn cây đòn lên chốt. Chị Lành lấy nước sôi dội lên cái khuôn đồng, lấy bàn chải sắt chà. Bột khô mấy chục năm bong ra từng mảng. Mấy trăm cái lỗ trên khuôn đồng sáng lên dưới ánh đèn pin, từng cái một.
Ông Tám đứng dậy. Ông đi lại bên cái cối, đưa bàn tay phải sờ lên thành ống gỗ, sờ lên vòng đai sắt, sờ lên cây đòn. Rồi ông nói, nhỏ, như nói với chính mình:
– Má con với ba đẽo cái này năm chín mươi ba. Gỗ sao ông ngoại con cho, cây sao trước sân nhà ngoại ở Cần Đước bị bão quật ngã. Đẽo hết một tháng.
Thơm đứng bên cạnh ba. Cô không biết chuyện đó. Ba cô chưa bao giờ kể.
– Làm sao ép ba?
Ông Tám chỉ tay.
– Bột bỏ vô ống, đầy tới ba phần tư. Đậy chày lên. Một người ngồi lên đầu đòn, đè xuống. Bột ra khỏi khuôn, rơi xuống chảo. Đè đều, đừng giật. Giật là sợi đứt. Đè chậm quá là sợi to. – Ông nhìn quanh. – Đứa nào nặng nhất?
Mọi người nhìn nhau. Rồi mọi người nhìn Trung.
– Tui sáu mươi tám ký. – Trung nói, gãi đầu.
– Được. – Ông Tám nói. – Thằng Sáu canh chảo. Con Lành vớt bún. Con Thơm đổ bột. Thằng Toàn rọi đèn với đếm giờ.
– Còn ba?
– Ba đếm mẻ.
Mẻ đầu tiên hỏng. Trung ngồi lên đầu đòn, đè xuống quá mạnh, cây đòn kêu răng rắc, bột phọt ra khỏi khuôn thành từng cục chứ không thành sợi. Mẻ thứ hai Trung đè nhẹ quá, sợi bún ra to như sợi bánh canh. Ông Tám đứng bên cạnh, không la. Ông chỉ nói:
– Đè như đè lưng cho người già. Đừng đè như đè người ta xuống nước.
Trung ngồi im một giây, rồi bật cười. Mẻ thứ ba, anh đè đúng. Sợi bún chảy ra khỏi khuôn đồng, trắng ngà, đều đặn, rơi xuống chảo nước sôi, cuộn lại, nổi lên. Sáu Đẹt đứng canh chảo, vặn lửa lên một nấc. Chị Lành vớt bún ra thau nước lạnh, vắt thành vắt.
Ông Tám đưa tay trái lên, ngón cái bấm lên đốt dưới ngón trỏ. Một mẻ.
Đêm đó dài như cả tuần. Cái cối gỗ mỗi mẻ chỉ ra được ba ký bún, chậm hơn máy ép inox gấp sáu lần. Một trăm năm chục ký là năm chục mẻ. Trung đè được mười lăm mẻ thì hai bắp đùi run lẩy bẩy, Sáu Đẹt lên thay. Sáu Đẹt nhẹ cân hơn, phải lấy thêm bao gạo năm chục ký đặt lên đầu đòn, ngồi lên trên. Rồi Trung lên lại. Rồi Thơm lên thử, nặng có bốn mươi chín ký, phải ôm thêm hai bao gạo, đè được năm mẻ thì Trung đổi.
Bánh hỏi thì còn khó hơn. Bánh hỏi ép bằng cái khuôn đồng nhỏ của má, khuôn cỡ cái chén, lỗ nhỏ li ti, bột phải nhuyễn hơn bột bún, ép bằng tay chứ không bằng đòn. Sợi bánh hỏi ra mỏng như sợi chỉ, phải hứng ngay trên lá chuối, vắt thành từng lớp mỏng như tấm lụa, rồi đem hấp. Chị Lành ngồi vắt, tay nhanh như máy. Thơm ngồi ép, mỗi khuôn ép xong là cổ tay mỏi nhừ. Lúc bốn giờ sáng cô nhận ra mình đang khóc mà không biết từ lúc nào, nước mắt nhỏ lên lá chuối, cô lấy vai áo chùi đi, ép tiếp.
Ông Tám đếm. Ngón cái tay trái bấm từng đốt: ngón trỏ ba đốt, ngón giữa ba đốt, cái đốt còn lại của ngón áp út, ngón út ba đốt. Mười đốt một vòng. Năm vòng là năm chục mẻ. Ông không ngồi xuống lần nào.
Ba giờ bốn mươi lăm, Toàn với Trung chở ba mươi mối thường ngày đi giao, trễ có mười lăm phút. Không ai hỏi gì. Cả xóm Lò cúp điện, các quán đều thắp đèn sạc, nấu bằng ga, ai cũng biết.
Năm giờ mười, mẻ thứ ba mươi. Trời bắt đầu sáng xám. Toàn với Trung quay về, Trung lại ngồi lên đầu đòn.
Sáu giờ hai mươi, mẻ thứ năm mươi.
Ông Tám bấm lên đốt cuối cùng của ngón út, vòng thứ năm. Ông dừng tay. Ông nhìn xuống bàn tay trái, nhìn cái mỏm ngón áp út, rồi nhìn lên cái cối gỗ, cây đòn cà chít, cái khuôn đồng đã sáng bóng trở lại.
– Đủ. – Ông nói.
Không ai nói gì. Sáu Đẹt ngồi bệt xuống nền xi măng ướt, dựa lưng vô thành chảo. Chị Lành nằm dài lên đống bao gạo. Trung đứng dậy khỏi đầu đòn, hai chân run, đi được hai bước thì ngồi phịch xuống cái ghế nhựa. Toàn tắt đèn pin. Thơm nhìn quanh xưởng, nhìn mấy chục rổ bún xếp chồng lên nhau, nhìn mấy chục lớp bánh hỏi mỏng như lụa đang nằm trong xửng hấp, và cô thấy ngực mình như có cái gì vỡ ra, ấm nóng.
Sáu giờ bốn mươi, điện có lại. Đèn tuýp trên mái chớp chớp rồi sáng trưng. Máy ép inox kêu bụp một tiếng, như đang hỏi chuyện gì đã xảy ra.
Bảy giờ rưỡi, Thơm và Trung chở bún, bánh hỏi lên nhà hàng Hoa Viên. Thằng cháu bà Út Mai, một anh chàng ba mươi tuổi mặc vest đen, ra tận cửa sau nhận hàng, mở từng rổ coi, rồi gật đầu.
– Đẹp. – Anh ta nói. – Bánh hỏi đẹp hơn người cũ.
Mười một giờ, tiệc cưới đầu tiên bắt đầu. Thơm không về. Cô ngồi ở cái bàn nhựa trong bếp sau của nhà hàng, mắt díp lại, chờ coi người ta ăn. Cô nghe tiếng nhạc, tiếng MC, tiếng chạm ly. Cô thấy người phục vụ bưng ra những đĩa bánh hỏi heo quay, những tô bún xào. Cô thấy những đĩa đó quay về bếp sạch trơn.
Gần một giờ trưa, cô đang ngủ gục trên bàn thì có người vỗ vai.
– Chị là người làm bánh hỏi hả?
Thơm giật mình ngồi dậy. Một người phụ nữ bốn mươi mấy tuổi, mặc áo dài màu xanh ngọc của khách dự tiệc, tóc búi gọn, đứng trước mặt cô. Gương mặt chị lạnh, gọn, không cười.
– Dạ, em.
– Tôi là Ung Thị Mận. Tôi làm trưởng bộ phận thu mua cho một công ty suất ăn công nghiệp. – Chị đưa cho Thơm tấm danh thiếp. – Bên tôi nấu cho ba nhà máy, sáu ngàn suất một ngày. Thứ Ba với thứ Sáu có món bún. Tôi đang kiếm nhà cung cấp mới.
Thơm cầm tấm danh thiếp, không nói được gì.
– Tôi ăn nhiều bánh hỏi rồi. – Chị Mận nói tiếp. – Cái hôm nay là cái ngon nhất. Bún xào cũng vậy. Chị gửi mẫu cho tôi. Sáng thứ Ba tuần sau. Mười ký bún. Tôi thử.
– Dạ. – Thơm nói. – Mà chị ơi, sáu ngàn suất là…
– Là gần một tấn bún một buổi. – Chị Mận nói, mặt không đổi. – Tôi biết. Chị cứ gửi mẫu. Chuyện làm được hay không, mình nói sau.
Chị quay đi, tà áo dài xanh ngọc khuất sau cánh cửa bếp. Thơm ngồi đó, tấm danh thiếp trong tay. Xưởng nhà cô, chạy hết công suất cả đêm, được sáu trăm rưỡi ký.
Gần một tấn một buổi.
— Hết chương 14 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe