Chương 31: Bao bì men cái 1993
Ông Tám cầm cái túi bún lên, giơ ra xa tầm mắt vì không đeo kính, đọc dòng chữ nâu đất từng chữ một, rồi ông bật cười lần thứ hai trong mười ngày.
– Năm chín mươi ba ba đâu có men cái. – Ông nói. – Năm chín mươi ba ba có nước vo gạo.
Ông đặt cái túi xuống bàn gỗ dài, rồi đi ra hiên, ngồi xuống cái ghế nhựa đỏ, nhìn ra ruộng rau muống. Ông không nói gì nữa. Thơm nhìn theo ba. Cô thấy ông cười, mà cô không thấy ông vui.
Cô lật cái túi lại. Mặt sau in chữ nhỏ. Thành phần: gạo, nước, men lên men truyền thống. Không chất bảo quản. Bảo quản lạnh từ hai tới tám độ, hạn dùng năm ngày kể từ ngày sản xuất. Sản xuất bởi công ty cổ phần thực phẩm Hòa Lộc Phát, địa chỉ khu công nghiệp phía Lê Minh Xuân. Không có chữ Tám Rạng ở đâu hết.
Chỉ có hình một vắt bún trên lá chuối, buộc một sợi dây lác xanh lá non, nút con bướm hai tai bằng nhau, tai bên trái nằm trên. Chỉ có con số một chín chín ba. Chỉ có ba chữ "chợ Xóm Lò".
Cô đã thấy cái nút đó trong cái clip hai mươi bảy giây hồi tháng Ba. Lần này nó không nằm trong cái rổ tre ở đâu đó trong một cái clip của một tài khoản ảo. Nó được in màu, trên giấy bóng, bày nguyên một kệ ở tiệm tạp hóa đầu chợ Bà Hom.
Chị Lành ngồi xuống đối diện cô, thở dài.
– Mấy bữa nay khách ở cửa sổ hỏi hoài. – Chị nói. – Hỏi bún gói men cái có phải của xưởng mình không. Chị nói không. Có người không tin. Có bà nói "thì cái lu bể rồi, giờ làm bún gói chớ gì". Có thằng nhỏ nói nó mua ở tiệm tạp hóa rẻ hơn, khỏi phải dậy bốn giờ sáng xếp hàng.
– Nó bán bao nhiêu chị?
– Mười chín ngàn một gói năm trăm gam. – Chị Lành nói. – Ba mươi tám ngàn một ký. Gấp đôi phiếu mình. Mà người ta vẫn mua. Người ta mua vì cái hình. Vì cái chữ chín mươi ba.
Toàn ngồi ở đầu bàn, laptop mở, mặt đỏ gay.
– Chị Hai, lần này mình phải nói. – Nó nói. – Họ in cái nút của dì Tám. Họ in năm chín mươi ba. Họ in chợ Xóm Lò. Ai đọc cũng tưởng là mình. Em quay một cái clip, chỉ cần quay cái lu bể, quay ba nói "năm chín mươi ba ba đâu có men cái"…
– Không. – Thơm nói.
– Chị Hai!
– Chị không cãi trên điện thoại. – Cô nói, giọng không lớn. – Hồi tháng Ba chị nói vậy, giờ chị cũng nói vậy. Cái clip hàn the ba trăm ngàn người coi, tờ giấy kiểm nghiệm hai ngàn người coi. Mình mà quay cái lu bể, người ta nhớ cái lu bể, người ta không nhớ cái gì khác.
Toàn đóng laptop cái rầm, đứng dậy đi ra ngoài. Thơm để nó đi.
Cô gọi chị Hà.
Chiều thứ Hai, ba mươi mốt tháng Tám, chị Hà xuống tới Bình Chánh cũ, lần đầu tiên. Chị ngồi ở cái bàn gỗ dài, nghe tiếng ếch nhái ngoài ao sen, nhìn cái giàn mưa của ông Giáp, nhìn cái lu thủng ở góc phía tây, nhìn cái khạp nước cái mới. Rồi chị đặt cái túi bún men cái lên bàn, đọc từng chữ trên đó, cả mặt trước lẫn mặt sau, như đọc tờ giấy cọc.
– Chị nói em nghe mấy điều chắc. – Chị nói. – Rồi mấy điều không chắc.
– Dạ.
– Điều chắc thứ nhất. Cái tên Tám Rạng em chưa đăng ký nhãn hiệu. Ba mươi ba năm làm bún mà chưa đăng ký. – Chị nhìn ông Tám đang ngồi ngoài hiên. – Cái đó em làm liền đi. Nộp đơn đăng ký nhãn hiệu. Chị giúp em làm hồ sơ. Lâu, mà phải làm.
– Dạ.
– Điều chắc thứ hai. Cái túi này không ghi chữ Tám Rạng. Họ ghi "chợ Xóm Lò", ghi "1993", in hình cái nút dây. Mấy chữ đó không phải của riêng ai. Nhưng in chung vô một cái túi, bán ở chợ Bà Hom, cách chợ Xóm Lò hai cây số, thì người mua dễ hiểu lầm. Em có bằng chứng người ta hiểu lầm. – Chị chỉ vô chị Lành. – Khách ở cửa sổ hỏi. Em ghi lại. Ai hỏi, ngày nào, hỏi gì. Không cần tên người ta.
– Dạ.
– Mình làm hai việc. Một, chị gửi văn bản cho công ty Hòa Lộc Phát. Văn bản nói rõ cơ sở bún Tám Rạng ở chợ Xóm Lò hoạt động từ năm chín mươi ba, cái nút dây lác, màu dây, là đặc điểm nhận diện của cơ sở. Bao bì của họ gây nhầm lẫn, đề nghị họ ngưng sử dụng. Hai, em gửi phản ánh tới cơ quan quản lý thị trường, kèm cái túi này, hóa đơn mua, ảnh chụp kệ hàng, lời của khách. Họ xem xét thế nào là việc của họ.
Thơm gật đầu. Rồi cô nói cái điều cô đã giữ trong đầu suốt hai ngày.
– Chị Hà. Còn cái chữ "không chất bảo quản".
Chị Hà nhìn cô.
– Bún tươi ủ chua, không phụ gia, để tới trưa là chua. Bún nhà em vậy. Bún nhà máy của họ, có phụ gia được phép, ghi trên bao bì đàng hoàng, để ba ngày. – Thơm nói. – Cái túi này ghi không chất bảo quản, mà hạn dùng năm ngày. Em để một túi ngoài hiên từ sáng thứ Bảy, không bỏ tủ lạnh. Tới sáng nay vẫn chưa chua.
– Em nghi.
– Dạ, em nghi.
– Nghi thì giữ trong đầu. – Chị Hà nói, chậm, rõ. – Em không phải phòng thí nghiệm. Em nói ra mà không có kết quả kiểm nghiệm của một nơi có thẩm quyền là em thành người làm cái clip hàn the. Em hiểu không?
Thơm im một lúc lâu.
– Dạ. Em hiểu.
– Trong văn bản phản ánh, em có thể ghi là em đề nghị cơ quan xem xét thông tin trên nhãn, vì sản phẩm ghi không chất bảo quản mà hạn dùng dài. Chỉ vậy thôi. Đừng thêm một chữ nào.
Chị Hà soạn văn bản ngay tối hôm đó. Thơm ký bên cạnh chữ ký của ông Tám, hai chữ ký, một chữ "Rạng" run, một chữ "Thơm" thẳng.
Ba ngày sau, Hòa Lộc Phát trả lời. Lá thư có chữ ký của giám đốc kinh doanh, Lã Minh Khoa. Lá thư lịch sự, ngắn. Chợ Xóm Lò là địa danh. Năm một chín chín ba là năm khởi nguồn của phương pháp ngâm ủ chua truyền thống mà công ty tham khảo. Hình ảnh dây lác buộc bún là hình ảnh phổ biến của bún tươi Nam Bộ. Công ty không sử dụng tên gọi nào thuộc quyền của cơ sở khác. Cảm ơn quý cơ sở đã quan tâm.
– Cái thằng. – Chị Lành đọc xong, nói. – Nó viết hay hơn nó nói.
Thơm không nói gì. Cô cất lá thư vô ngăn kéo, nằm cạnh cái phong bì thư mời làm việc hồi tháng Tư.
Tuần đó, phiếu đặt bún bán được ít nhất từ hồi tháng Sáu. Ba mươi mốt phiếu trong một tuần. Có ngày chỉ hai phiếu. Cửa sổ bán lẻ ở hẻm bảy mươi hai vẫn mở, vẫn có người tới, nhưng hàng người không còn dài tới cây trụ điện. Mấy người mới, người từ bên kia sông, người từ Thủ Đức, không còn ai chạy qua nữa. Họ mua bún men cái ở tiệm tạp hóa gần nhà.
Tối thứ Năm, ba tháng Chín, Trung xuống xưởng với một hộp bánh xèo.
Anh không xuống để chở bún. Từ hồi xưởng dời về Bình Chánh cũ, anh không chở giùm được nữa, xa quá, quán anh sáu giờ mở. Mỗi sáng anh vẫn ra hẻm bảy mươi hai lấy mười lăm ký ở chỗ chị Lành, như một người khách. Tối nay anh chạy hai mươi hai phút xuống đây, chỉ để đem hộp bánh xèo.
Hai người ngồi ngoài hiên, trên bậc thềm, nhìn ra cái ao sen tối om. Ếch nhái kêu inh ỏi.
– Em đưa anh coi cái này. – Thơm nói.
Cô đưa cho anh cái phong bì thư mời làm việc. Anh mở ra, đọc dưới ánh đèn tuýp hắt ra từ cửa xưởng. Anh đọc từng chữ, ngón tay lần theo dòng, như mọi khi. Tới cái điều khoản ở trang hai, anh dừng lại, đọc hai lần, rồi bật cười, cười tới mức phải đặt hộp bánh xèo xuống.
– Hai năm khóa tay. – Anh nói.
– Dạ.
– Ba tháng cho không là chín tháng khóa cửa. Hai mươi lăm triệu một tháng là hai năm khóa tay. – Trung lắc đầu, gấp tờ thư lại. – Thằng này nó giỏi một chuyện. Nó viết chữ nhỏ giỏi.
– Bây giờ nó in chữ to. – Thơm nói. – Một chín chín ba. Chợ Xóm Lò.
Trung không cười nữa. Anh nhìn cô.
– Em mệt hả?
Thơm không trả lời. Cô nhìn cái ao sen. Cô nhớ lại cái sáng tháng Tư, bốn giờ mười, ngồi giữa đường trong vũng nước nhớt cá, nhìn hai chục vắt bún, và Trung dừng xe lại. Cô không nhớ từ lúc nào mà mỗi khi cô mệt, người cô nhìn thấy đầu tiên là anh.
– Em không mệt. – Cô nói. – Em không biết làm gì nữa.
– Em có biết. – Trung nói. – Em biết làm bún.
Điện thoại cô reo. Số lạ. Cô nhìn đồng hồ: tám giờ bốn mươi tối.
– Chị Thơm hả. – Giọng phụ nữ, gọn, lạnh, không cười. – Tôi Mận. Ung Thị Mận, bên suất ăn.
Thơm đứng bật dậy. Hộp bánh xèo suýt lật.
– Dạ, em chào chị.
– Tôi nói ngắn. – Chị Mận nói. – Hợp đồng bún của bên tôi với nhà cung cấp hiện tại hết hạn cuối tháng này. Tôi mở đấu thầu. Ba bếp, ba nhà máy, thứ Ba với thứ Sáu, gần một tấn một buổi. Nếm mù. Bếp trưởng ba bếp nếm, không ai biết bún của ai. Có xét nghiệm. Thứ Ba tuần sau, tám tháng Chín, chín giờ sáng, tại bếp trung tâm của tôi.
– Dạ.
– Có năm nhà gửi hồ sơ. – Chị Mận nói tiếp. – Một trong năm nhà là Hòa Lộc Phát. Họ dự bằng sản phẩm mới. Bún men cái.
Thơm đứng im giữa hiên. Trung ngồi dưới bậc thềm, ngước lên nhìn cô.
– Tôi nhớ lời tôi nói hồi tháng Tư. – Chị Mận nói. – Khi nào chị đủ một tấn một buổi, gọi tôi. Chị chưa gọi. Tôi gọi chị. Chị có dự không?
Thơm nhìn vô cái xưởng. Ba cái bồn ngâm. Một cái máy ép inox. Cái cối gỗ sao đặt trên giá. Cái khạp nước cái nhỏ cạnh cái lu thủng. Một đêm, chạy hết sức, xưởng này ra được tám trăm ký. Tám trăm ký đã có chủ, bốn chục mối, mấy trăm cái phiếu.
Một tấn một buổi.
– Dạ. – Cô nói. – Em dự.
— Hết chương 31 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe