Chương 32: Bốn lò
– Bốn lò. – Thơm nói. – Mỗi lò hai trăm rưỡi ký, đêm thứ Hai với đêm thứ Năm. Bốn lò là một tấn.
Cô nói câu đó lúc mười một giờ đêm thứ Năm, ba tháng Chín, trước mặt cả xưởng, sau khi chị Mận cúp máy được hai tiếng. Hộp bánh xèo của Trung còn nằm trên cái bàn gỗ dài, nguội ngắt. Trung chưa về.
– Bốn lò nào? – Chị Lành hỏi.
– Mình là một. – Thơm nói, đếm trên ngón tay. – Lò ông Hai Bé ở chợ Phú Lâm, cái lò làm bún sợi to mà anh Sơn chọn hồi tháng Bảy. Lò cô Chín Huệ ở xóm bên, bà Mười Nhị nói hai vợ chồng cổ làm bún hai chục năm, mất mối qua Hòa Lộc gần hết, giờ một đêm làm có trăm ký. Với lò anh Tâm ở Bình Trị Đông, lò của ba ảnh để lại, anh Trung biết.
Trung gật đầu.
– Thằng Tâm mất ba chục mối hồi tháng Tư. – Anh nói. – Nó tính bán máy.
– Họ không biết mình. – Sáu Đẹt nói, chậm. – Dạ, cô Hai. Bún mỗi lò mỗi khác. Bếp người ta nếm mù, bốn lò ra bốn thứ bún thì…
– Thì mình làm cho ra một thứ. – Thơm nói. – Cùng một gạo. Gạo cũ bà Hai Lựu. Cùng một cách ngâm. Ngâm theo trời. Cùng một nước cái, mình gây cho mỗi lò một khạp. Cùng một cái chín vỏ sống ruột. Anh Sáu dạy. Em dạy.
Không ai nói gì. Ông Tám ngồi trên cái ghế nhựa đỏ ở đầu máy, ly trà trong tay trái. Ông nhìn con gái.
– Con đem cái nghề nhà mình đi dạy cho ba cái lò khác. – Ông nói. Không phải hỏi.
– Dạ.
– Con cho hết rồi con còn cái gì?
Thơm nhìn ba. Cô nhớ cái đêm ông ngồi trên cái ghế nhựa này, kể chuyện năm hai ngàn đổ cái lu ra rạch. Cô nhớ cái câu má nói với ba, để cái lu cho người ta tin.
– Con còn cái mũi. – Cô nói. – Ba nói cái lu là để cho cái mũi mỗi chiều phải tới đó. Cái mũi thì con không cho ai được.
Ông Tám im một lúc. Rồi ông cười, không lớn như hôm cái lu bể, chỉ một cái nhếch mép, cái nhếch mép mà Thơm đã thấy hai lần trong tháng Ba.
– Ừ. – Ông nói. – Mai ba đi với con.
Sáng thứ Sáu, giao xong, Thơm chở ba đi ba cái lò.
Lò ông Hai Bé nằm trong một con hẻm sau chợ Phú Lâm, nhỏ hơn xưởng hẻm bảy mươi hai, chỉ có một cái máy ép cũ, hai cái chảo. Ông Hai Bé sáu mươi chín tuổi, người to, tiếng lớn, làm bún với thằng con trai ba mươi tuổi tên Phúc. Ông nghe Thơm nói xong thì trợn mắt.
– Một tấn? Cho bếp ăn nhà máy? Con nhỏ này điên rồi.
– Dạ, hai trăm rưỡi ký thôi chú. Một đêm thứ Hai, một đêm thứ Năm.
– Rồi tiền?
– Bếp trả cho mình, mình chia theo ký. Mười lăm ngàn. – Thơm nói. – Chú làm bao nhiêu ký thì chú lấy bấy nhiêu tiền. Em không ăn chênh lệch.
Ông Hai Bé nhìn cô. Rồi ông nhìn qua ông Tám, đang đứng ở cửa lò nhìn hai cái chảo.
– Ông là ông Tám Rạng?
– Ừ.
– Cái clip cúp điện. Tôi coi rồi. – Ông Hai Bé nói, giọng nhỏ hẳn lại. – Ông dạy thằng con tôi nghe nước giùm. Nó đứng chảo mười năm mà nó còn nhìn đồng hồ.
Ông Tám đi lại cái chảo. Ông đứng bên thằng Phúc, không nói gì một lúc lâu. Rồi ông nói "nhắm mắt lại", y như Sáu Đẹt hồi tháng Ba.
Thơm đứng ở cửa lò, nhìn ba đứng bên một cái chảo không phải của nhà mình, dạy một đứa không phải con mình nghe tiếng nước. Bàn tay phải của ông run bên hông. Ông không giấu nó vô túi quần.
Cô Chín Huệ ở xóm bên thì không hỏi tiền. Cô hỏi một câu thôi:
– Con dạy cô ngâm theo trời thiệt hả?
– Dạ, thiệt.
– Hai chục năm cô ngâm theo đồng hồ, bún cô không ai chê mà cũng không ai khen. – Cô Chín Huệ nói. – Con dạy thiệt thì cô làm.
Anh Tâm ở Bình Trị Đông là người khó nhất. Anh ba mươi lăm tuổi, nói ít, mắt lúc nào cũng nhìn xuống. Cái lò của anh có một cái máy ép inox mới gần bằng máy nhà Thơm, mua trả góp. Anh nghe xong thì im rất lâu.
– Chị đem nghề nhà chị đi dạy, rồi mai mốt tụi tui làm được, tụi tui giành mối của chị thì sao? – Anh hỏi.
– Thì anh giành. – Thơm nói. – Mà anh giành mối của em thì anh đâu có giành mối của nhà máy. Mình bốn lò, mỗi lò hai trăm ký thì mình không giành được gì của ai. Mình bốn lò một tấn thì mình giành được một bếp ăn.
Anh Tâm ngước lên nhìn cô. Lần đầu tiên.
– Ba tui hồi đó nói y vậy. – Anh nói. – Ổng rủ mấy lò làm chung, không ai chịu. Rồi ổng chết.
Chiều thứ Sáu, Thơm gây ba khạp nước cái mới. Gạo cũ bà Hai Lựu, nước vo lần hai, nước máy để qua đêm, đậy vải mùng. Bà Hai Lựu nghe chuyện bốn lò thì đóng cửa sạp sớm, ngồi tính trên cái bàn tính gỗ cả tiếng, rồi nói gạo cũ trong kho bà đủ cho bốn lò hai tháng, sau đó phải đi gom thêm.
– Bốn lò lấy gạo của tao. – Bà nói, giọng lanh chanh, mà mắt đỏ hoe. – Ba chục năm nay tao bán gạo cũ cho có mình nhà ông Tám chịu mua. Người ta chê gạo cũ, người ta mua gạo mới cho đẹp. Bây giờ bốn lò.
Ba ngày liền, ngủ chưa tới mười tiếng cộng lại, Thơm với Sáu Đẹt chạy vòng ba cái lò. Sáu Đẹt dạy chín vỏ sống ruột cho thằng Phúc, cho chồng cô Chín Huệ, cho anh Tâm. Thơm dạy ngâm. Dạy ngửi. Dạy cúi xuống cái khạp mỗi chiều, múc một gáo ra, một gáo vô. Cô không nói với ai câu chuyện cái lu đổ ra rạch năm hai ngàn. Cô chỉ nói: chiều nào cũng phải cúi xuống.
Đêm Chủ Nhật, bốn lò chạy thử. Hai giờ sáng thứ Hai, Thơm chạy xe vòng ba cái lò, mỗi lò lấy hai vắt, đem về xưởng. Sáu Đẹt, chị Lành, ông Tám, Toàn, Trung ngồi quanh cái bàn gỗ dài. Tám vắt bún, bốn lò. Chị Lành xáo trộn. Không ai biết vắt nào của lò nào.
Ông Tám nếm từng vắt. Chậm. Mỗi vắt hai sợi. Rồi ông chỉ ra hai vắt.
– Hai cái này ngâm non.
Chị Lành lật lá chuối. Hai vắt của lò anh Tâm.
– Nó ngâm bằng nước máy hứng thẳng, không để qua đêm. – Ông Tám nói. – Mai con dặn nó.
Thứ Hai, lò anh Tâm ngâm lại. Đêm thứ Hai, chạy thử lần hai. Sáng thứ Ba, ông Tám nếm tám vắt, lắc đầu không chỉ ra vắt nào.
– Được. – Ông nói. – Không bằng nhà mình, mà được.
Thơm nhìn ba. Đó là câu của ông Giáp. Ông Tám nói nó mà như nói câu của chính mình.
Tám giờ tối thứ Hai, bảy tháng Chín, hai tiếng trước giờ lên ca, sau khi chạy vòng ba cái lò lần cuối, Thơm ngồi một mình ngoài hiên xưởng Bình Chánh cũ. Ếch nhái kêu ngoài ao sen. Hai bàn tay cô để trên đầu gối, run lên từng chập. Không phải cái run của ba. Cái run của người ba ngày ba đêm không ngủ. Cô nhìn hai bàn tay, cố bắt nó ngừng, mà nó không ngừng.
Trung ngồi xuống bên cạnh cô. Anh không nói gì. Anh đưa bàn tay trái của mình ra, bàn tay có vết sẹo dài trên mu, đặt lên bàn tay phải của cô.
Bàn tay anh to, ấm, đầy vết bỏng cũ.
Bàn tay cô ngừng run.
Hai người ngồi như vậy rất lâu. Không ai nói gì. Ở trong xưởng, chị Lành đi ra cửa, thấy, đứng lại một giây, rồi quay vô, kéo luôn thằng Toàn đang định đi ra theo.
Chín giờ sáng thứ Ba, tám tháng Chín, bếp trung tâm của công ty suất ăn công nghiệp nằm trong một khu nhà xưởng lớn phía tây thành phố. Thơm tới từ bảy giờ, cùng Sáu Đẹt, đem theo hai mươi ký bún, năm ký của mỗi lò, xếp chung trong bốn cái rổ tre lót lá chuối, buộc dây lác xanh, không ghi tên lò. Năm nhà dự thầu, mỗi nhà hai mươi ký, đánh số từ một tới năm.
Khoa có mặt. Áo sơ mi xanh nhạt bỏ thùng, giày tây, đứng cạnh hai nhân viên áo xanh lá khiêng một thùng xốp lớn đựng mấy chục túi bún men cái. Anh ta thấy Thơm, gật đầu chào, cười rất lịch sự.
– Chị cũng tới. – Anh ta nói. – Em mừng. Có đối thủ thì nếm mới vui.
Thơm không trả lời.
Chị Mận không cười với ai. Chị mặc đồng phục bếp trắng, đứng ở đầu cái bàn inox dài, tay cầm một tờ giấy, đọc quy định. Ba bếp trưởng của ba bếp nhà máy sẽ nếm ba món: bún xào, bún riêu, bún thịt nướng, đúng ba món bếp nấu cho công nhân. Không ai trong ba bếp trưởng biết số nào của nhà nào. Mỗi người chấm điểm riêng, bỏ vô phong bì riêng. Song song, mỗi mẫu bún được lấy một phần, niêm phong, gửi đi kiểm nghiệm ở một phòng thí nghiệm do bên chị chọn. Kết quả nếm và kết quả kiểm nghiệm cùng được tính.
– Kết quả có vào thứ Sáu tuần sau. – Chị Mận nói. – Ai có thắc mắc thì hỏi bây giờ. Sau hôm nay tôi không nghe.
Không ai hỏi.
Nếm mất hai tiếng. Thơm ngồi ở hàng ghế dành cho nhà dự thầu, sát vách, nhìn ba ông bếp trưởng mặc đồ trắng ăn từng đĩa bún xào, húp từng tô riêu, gắp từng đũa bún thịt nướng, ghi ghi chép chép. Không ai nhìn về phía hàng ghế dự thầu. Cô không biết số nào là của mình. Chị Mận đã cho người khác đánh số.
Mười một giờ, xong. Ba phong bì điểm được dán lại, đưa cho chị Mận. Chị bỏ vô một cái cặp, khóa lại.
Thơm ra về. Ở cửa bếp trung tâm, Khoa đứng chờ sẵn, như hôm ở cổng chợ.
– Chị Thơm. – Anh ta nói. – Em nghe nói chị gom ba cái lò nhỏ. Lò ông Hai Bé chợ Phú Lâm. Lò bà Chín gì đó dưới Bình Chánh. Lò thằng Tâm Bình Trị Đông.
Thơm nhìn anh ta.
– Em chỉ nhắc chị một câu. – Khoa nói, giọng vẫn ngọt. – Bốn lò thì bốn cái bếp, bốn cái nồi, bốn cái khâu kiểm soát. Một lò có chuyện là cả bốn lò có chuyện.
Anh ta gật đầu chào, đi ra bãi xe.
Thơm về tới xưởng lúc một giờ trưa, ngủ được bốn tiếng liền lần đầu tiên trong một tuần.
Hai ngày sau, chiều thứ Năm, mười tháng Chín, điện thoại cô reo lúc cô đang gây lại khạp nước cái cho lò anh Tâm. Số của một người cô không quen. Người đó tự giới thiệu là phó bếp của bếp trung tâm.
– Chị là chị Thơm, chủ cơ sở bún Tám Rạng phải không ạ?
– Dạ.
– Sáng nay bếp tôi có người gửi tới một phiếu kết quả xét nghiệm. – Người đó nói, giọng dè dặt. – Đóng dấu một phòng thí nghiệm. Ghi mẫu bún lấy ở lò bún của ông Hai Bé, chợ Phú Lâm, một trong mấy lò của chị. Kết quả ghi là có phát hiện hàn the.
— Hết chương 32 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe