Chương 23: Dây chuyền số hai
Cái màn hình nhỏ gắn trên đầu máy đùn số hai báo nhiệt độ hơi bằng con số màu xanh, và suốt ba tháng nay Cao Văn Hiển nhìn con số đó nhiều hơn nhìn mặt bất kỳ ai.
Chín mươi tám độ. Chín mươi tám độ. Chín mươi bảy. Nó bấm nút tăng lên một nấc. Chín mươi tám.
Ở xưởng bún của dượng Tám, không ai nhìn nhiệt độ. Người ta nghe nước. Hồi mười sáu tuổi nó đứng bên chảo ba tháng, nhắm mắt, nghe tiếng xè xè đổi qua lục bục, và anh Sáu đứng bên cạnh nói "nghe lại" không biết bao nhiêu lần. Ở đây không có tiếng xè xè. Chỉ có tiếng máy đùn ù ù đều đều suốt tám tiếng, tiếng băng chuyền nước lạnh rì rào, tiếng máy cân kêu bíp mỗi khi một túi bún năm trăm gam rơi xuống đúng trọng lượng. Nó làm ca ngày, từ sáu giờ sáng tới hai giờ chiều. Lần đầu tiên từ năm mười sáu tuổi, nó ngủ vào ban đêm.
Nó ngủ không được.
Phòng trọ của nó ở trong một dãy trọ công nhân sau khu công nghiệp, mười hai mét vuông, ở chung với một thằng tên Bửu, nhân viên thị trường của anh Khoa. Anh Khoa sắp xếp chỗ đó cho nó hồi đầu tháng Tư, nói ở chung với Bửu cho có bạn. Bửu hai mươi bảy tuổi, quê dưới miền Tây, ít nói, sáng nào cũng đi từ năm giờ trên chiếc xe máy cũ mang biển số tỉnh, tối về khuya, nằm bấm điện thoại tới một hai giờ. Hai đứa ở chung ba tháng mà nói chuyện chưa được mười câu.
Lương mười bốn triệu, tháng đầu Hiển gửi về cho má một nửa. Má nó đã bán đàn vịt hai trăm con, bán luôn mấy công rau, trả bớt mấy cái ứng dụng cho vay. Chuyện đó là sau cái bữa nó ngồi ngoài bờ rạch với chị Thơm, sau khi nó gọi về Cần Giuộc, nói thiệt với má hết, từng cái ứng dụng, từng con số. Má nó không la. Má nó chỉ im rất lâu, rồi nói "mai má lên". Rồi má lên thật, dắt nó đi hỏi công an phường chỗ nó trọ. Người ta chỉ cho hai má con cách giữ lại tin nhắn đòi nợ, cách làm đơn trình báo mấy cuộc gọi bôi nhọ người thân. Mấy cuộc gọi lúc nửa đêm thưa dần. Phần nợ còn lại nó trả góp từng tháng, trả bằng lương.
Má nó cũng không hỏi nó tiền ở đâu mà nó trả được mấy kỳ đầu. Nó cũng không nói. Bốn chục triệu của anh Khoa nằm trong mấy kỳ đầu đó.
Chiều thứ Ba, hai mươi ba tháng Sáu, hết ca, anh Khoa nhắn kêu nó lên phòng thí nghiệm ở lầu một.
Phòng thí nghiệm lạnh hơn khu sản xuất, có mùi cồn, mùi giấy. Một chị kỹ sư trẻ đeo kính đang ngồi trước cái kính hiển vi. Anh Khoa đứng cạnh một cái kệ inox, tay cầm một xấp giấy in màu.
– Hiển, lại đây. – Anh Khoa nói, giọng vui vẻ như mọi khi. – Em coi giùm anh cái này. Màu này đúng chưa?
Anh ta đưa cho nó một tờ giấy. Hiển cầm lên.
Đó là mẫu in một cái bao bì bún. Nền trắng ngà. Ở giữa là hình chụp một vắt bún trắng nằm trên lá chuối, buộc một sợi dây lác màu xanh lá non, nút thắt kiểu con bướm, hai tai bằng nhau. Phía trên, chữ to màu nâu đất, kiểu chữ viết tay: "Bún men cái 1993". Dưới đó một dòng nhỏ hơn: "Công thức gốc chợ Xóm Lò – ngâm ủ chua truyền thống". Góc dưới bên phải có một con dấu tròn in chữ "Không chất bảo quản".
Hiển nhìn sợi dây lác trong hình. Xanh lá non, nhạt hơn xanh chợ. Cái màu dì Tám chọn. Cái màu mà ông Chín Thâu dưới Cần Đước nhuộm riêng, năm chục bó một năm.
Một bó trong năm chục bó đó, nó đã lấy trong kho đưa cho anh Khoa hồi trước Tết.
– Đúng chưa em? – Anh Khoa hỏi lại. – Bên in họ pha màu theo bó dây em đưa. Anh thấy hơi đậm.
– Dạ… đúng rồi anh. – Hiển nghe giọng mình nói. – Mà cái nút sai. Tai bên trái phải nằm trên.
– Thấy chưa. – Anh Khoa quay qua chị kỹ sư, cười. – Phải có người có tay. Em ghi lại, sửa cái nút.
Chị kỹ sư ghi vô sổ, không ngẩng lên.
Hiển đặt tờ giấy xuống cái bàn inox. Lúc đó nó mới thấy ba cái chai.
Ba cái chai nước suối loại một lít rưỡi, đứng ngay hàng trên kệ thứ hai, mỗi chai dán một miếng băng keo giấy, viết ngày bằng bút lông đen. Hai mươi sáu tháng Hai. Mười một tháng Ba. Hai mươi sáu tháng Ba. Nước trong chai không còn đục như nước vo gạo. Nó tách làm hai lớp, lớp dưới lắng cặn vàng, lớp trên trong, và trên mặt có một lớp váng trắng nhăn nheo như da người già. Nắp chai vặn chặt mà Hiển đứng cách hai bước vẫn ngửi thấy mùi. Không phải cái mùi chua dịu như cơm nguội để qua đêm. Mùi ôi, mùi chua gắt, mùi như cái giẻ lau bàn để quên trong xó.
Chai thứ nhất nó múc lúc ba giờ sáng mùng mười tháng Giêng. Nó nhớ tay nó run tới mức nước tràn ra miệng chai, nhỏ xuống chân. Nó không biết lúc đó dượng Tám đứng ở cửa nhà, nhìn nó.
– Mấy chai đó hả em? – Chị kỹ sư nói, thấy nó nhìn. – Chết hết rồi. Chai nào về tới đây cũng sống được năm sáu ngày, rồi chết. Chị nuôi đủ kiểu. Cho ăn nước vo gạo, giữ nhiệt độ, giữ trong tủ, để ngoài. Chết. – Chị nhún vai. – Chị nói anh Khoa rồi. Nước cái đó không có gì đặc biệt. Vi sinh lactic bình thường, trong nước vo gạo nào để chua cũng có. Mà nó không giữ được.
– Vậy bún men cái… – Hiển hỏi, chỉ tờ bao bì.
– Men công nghiệp, mua về. – Chị kỹ sư nói, không giấu. – Còn chữ thì anh Khoa lo.
Anh Khoa vỗ vai Hiển, đẩy nó ra cửa.
– Em làm giỏi. Mai em xuống sớm chút, anh cho em coi mẫu thử.
Hiển ra khỏi phòng thí nghiệm, đi lộn hướng cầu thang. Đi ngang qua cái ban công nhỏ ở cuối hành lang lầu một, nơi mấy anh văn phòng hay ra đứng hút thuốc, nó nghe giọng anh Khoa. Anh Khoa đã ra đó từ lúc nào, đứng quay lưng vô trong, nói điện thoại.
Hiển đứng sau cánh cửa kính mờ. Nó không định nghe. Rồi nó nghe.
– … ông Vinh già rồi, anh. – Giọng anh Khoa không ngọt như lúc nói chuyện với người ngoài. Nó nhanh, gọn, như người đếm tiền. – Ổng mê cái lu như người ta mê bùa. Mua cái lu để làm gì? Lu thì em đập cũng được. Cái mình cần là cái tên. Ký xong cái tên là em đi gặp bên quỹ liền. Quỹ người ta thích câu chuyện, anh. Ba mươi ba năm, chợ Xóm Lò, lu nước cái, ông già cụt ngón đếm mẻ trên đốt tay. Một triệu hai người coi. Câu chuyện đó nó tự kể giùm mình.
Im một chút. Rồi anh Khoa cười.
– Con nhỏ đó hả? Gom tiền trả cọc. Bán phiếu bún mười tám ngàn. Em nghe nói thiếu cả trăm. Anh yên tâm. Mà có trả được thì sao. Ký không được cái tên thì mình vẫn in. Chữ "một chín chín ba" ai cấm. Chữ "chợ Xóm Lò" ai cấm. Mình đâu có ghi chữ Tám Rạng.
Hiển đứng sau cánh cửa kính, tay nắm chặt quai cái túi vải.
– Còn miếng bờ rạch thì bên Thoa gom xong rồi anh. – Anh Khoa nói tiếp. – Miếng của ông già đó là miếng cuối. Thằng con ổng ký rồi, tuần sau công chứng. Ông già không biết gì đâu. Cuối năm hết hạn thuê là xong. Không có đất thì cái lò đó dời đi đâu? Dời đi rồi thì còn cái gì mà gọi là chợ Xóm Lò.
Hiển biết Thoa. Chị Kiều Mỹ Thoa, vợ anh Khoa. Bữa tất niên của công ty trước Tết, lúc nó mới bắt đầu đưa danh sách mối, anh Khoa kêu nó tới ăn cho biết mặt. Chị Thoa mặc đầm đỏ, cười rất tươi, hỏi nó "em là người của lò Tám Rạng hả, bún bên đó ngon lắm". Nó nhớ chị có nói chị mới mở một công ty riêng, làm bất động sản.
Nó đi xuống bãi xe, không nhớ mình đi bằng cách nào.
Tối đó, Bửu về sớm hơn mọi bữa, khoảng chín giờ. Hiển nằm trên tấm nệm mỏng trải dưới sàn, mắt nhìn trần nhà. Bửu dựng xe trước cửa phòng, mở cốp lấy cái áo mưa. Cái cốp xe mở hé dưới ánh đèn hành lang vàng vọt.
Hiển thấy nó trước khi kịp nghĩ.
Trong cốp xe, bên dưới cái áo mưa, là một cái bịch ni lông trong. Trong bịch là mấy chục sợi dây lác màu xanh lá non, bó lại bằng một sợi thun đỏ, đúng cái kiểu chị Lành bó dây mới nhận từ Cần Đước. Bó đã vơi hơn một nửa.
Hiển ngồi dậy.
– Bửu. Dây đó đâu ra vậy?
Bửu quay lại. Thằng nhỏ nhìn Hiển, nhìn xuống cái cốp xe, rồi đóng cốp lại, chậm rãi, như sợ đánh thức ai.
– Anh Khoa đưa. – Bửu nói. – Kêu giữ.
– Giữ làm gì?
Bửu không trả lời. Nó cầm cái áo mưa đi vô phòng, treo lên cây đinh, rồi đi ra ngoài lại, nói đi mua thuốc lá. Hiển ngồi trên tấm nệm, nhìn cái cửa phòng mở toang, nghe tiếng dép của Bửu xa dần trên hành lang.
Nó nhớ lại cái clip hai mươi bảy giây. Bàn tay phụ nữ đeo găng. Mẩu giấy vàng ngả qua nâu đỏ. Rổ bún buộc dây lác xanh, nút con bướm. Nó nhớ nó đã gọi anh Khoa ngay sáng hôm đó, giọng run, và anh Khoa nói "không phải bên anh, dây lác thì ai lượm chẳng được". Nó nhớ nó đã tin. Nó đã cố tin.
Một bó dây lác xanh, bó bằng sợi thun đỏ, vơi một nửa, nằm trong cốp xe của thằng nhân viên thị trường đi từ năm giờ sáng.
Nó không biết chắc. Nó không có cái gì chắc. Nó chỉ có một bó dây với một câu "kêu giữ". Nó thấy mình không có quyền đi nói với ai, kể cả chị Thơm. Người đã bán bó dây đó thì không có quyền chỉ tay vô người đang cầm nó.
Đêm đó Hiển không ngủ. Nó nằm tính tiền.
Ba tháng lương ở đây, trừ tiền gửi về trả nợ, trừ tiền ăn, nó dành được hai mươi hai triệu. Cơm trưa nhà máy cho, tối nó ăn mì gói. Chiếc xe máy của nó, mua trả góp hồi hai mươi tuổi, trả xong hồi năm ngoái, bán lại chắc được mười tám triệu. Không có xe thì đi làm bằng xe đưa rước của công ty, sáu giờ kém mười lăm có chuyến.
Hai mươi hai với mười tám.
Bốn chục triệu.
Đúng con số anh Khoa đưa nó, từng đợt, hồi tháng Chạp tới tháng Ba. Danh sách mối, năm triệu. Lịch giao. Một bó dây lác. Ba chai nước cái. Một cái tin nhắn lúc một giờ rưỡi sáng.
Nó không biết bốn chục triệu thì đủ làm gì với bốn trăm. Nó chỉ biết đó là con số của nó.
Chiều thứ Năm, hai mươi lăm tháng Sáu, ca ngày tan lúc hai giờ. Hiển không lên xe đưa rước. Nó dắt chiếc xe máy ra khỏi bãi, chạy ra cây xăng gần nhất đổ đầy bình, như người ta làm khi trả lại món đồ mượn. Rồi nó chạy thẳng lên mấy cửa tiệm mua bán xe cũ dọc đường lớn, cái tiệm đầu tiên có treo tấm bảng "Thu mua xe máy cũ, trả tiền mặt ngay".
Nó tắt máy trước cửa tiệm, ngồi trên xe thêm một chút. Rồi nó rút điện thoại, mở ứng dụng ngân hàng, bấm tất toán cái sổ tiết kiệm nó mở hồi tháng Tư.
Hai mươi hai triệu không trăm bốn mươi ngàn đồng. Nó nhìn con số trên màn hình, nhìn rất lâu, như nhìn con số nhiệt độ hơi trên đầu máy đùn số hai.
Rồi nó bước xuống xe, dắt vô tiệm.
— Hết chương 23 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe