Chương 10: Ba người đứng máy
Đêm đầu tiên không có thằng Hiển, chị Lành đứng máy ép và khóc.
Chị không khóc vì buồn. Chị khóc vì hơi nước. Máy ép đặt sát chảo sôi, người đứng máy phải cúi xuống canh sợi bún rơi, hơi nóng phả thẳng vô mặt. Hai mươi năm nay chị ngồi bệt dưới nền vắt bún, chưa bao giờ đứng máy. Tới mẻ thứ ba thì nước mắt chị chảy ròng ròng, chị lấy khăn quấn lên đầu, chừa hai con mắt, đứng tiếp.
– Em thay chị nghen. – Thơm nói.
– Thay cái gì mà thay. Em đứng chảo ai vớt bột? – Chị Lành nói qua lớp khăn. – Nhìn chị như ninja vậy thôi chớ chị đứng được.
Đêm đó, ba người đứng máy, ông Tám ngồi trên ghế, Toàn đi học tối về thì ngồi vắt bún thay chị Lành. Thằng nhỏ vắt vụng, vắt nào cũng to nhỏ không đều, nút dây lác thắt hai tai một dài một ngắn. Chị Lành nhìn qua, thở dài, nhưng không bắt nó buộc lại. Xưởng ra bốn trăm mười ký. Hai mẻ cuối xong lúc bốn giờ hai mươi, trễ gần nửa tiếng so với thường lệ.
Thơm chở chuyến đầu đi lúc ba giờ rưỡi, chạy về chở chuyến hai lúc bốn giờ hai mươi, chuyến ba lúc năm giờ. Lúc bảy giờ sáng cô về tới xưởng, ngồi xuống cái ghế nhựa, và ngủ gục ngay trên bàn, tay còn cầm cái bóp đựng tiền.
Cô ngủ được hai tiếng. Chín giờ phải dậy, đi chợ gạo của bà Hai Lựu, đi mua ga, đi trả tiền dây cho ông Chín Thâu qua chuyển khoản, về nghe điện thoại của mấy mối hỏi sao bún trễ. Trưa cô ăn hai miếng cơm rồi ngủ thêm một tiếng. Chiều cô múc lu, ra cổng chợ bày bàn bán lẻ với Toàn từ năm tới bảy giờ. Tối chín giờ cô ngủ được ba tiếng, rồi lên ca.
Năm ngày như vậy.
Bàn tay ông Tám đã cắt chỉ từ giữa tháng. Cái mỏm ngón áp út tròn lẳn, da non hồng hào, nhìn như một đầu ngón tay trẻ con. Bác sĩ cho ông làm việc nhẹ, đừng nhúng nước nóng, đừng xách nặng. Ông nghe xong, gật đầu, rồi về tới xưởng là đứng chảo luộc bột. Thơm cản, ông nói ông dùng tay phải, tay trái ông để trong túi quần. Ông đứng chảo được mỗi đêm bốn mẻ đầu, rồi ngồi xuống ghế, thở dốc. Thơm không cản nữa. Bốn mẻ của ba cô đỡ cho cô được bốn mẻ.
Tin thằng Hiển qua Hòa Lộc lan ra chợ còn nhanh hơn cái clip hàn the. Thơm không nói với ai, Sáu Đẹt không nói với ai, chị Lành thì chỉ la ở trong xưởng. Vậy mà tới ngày thứ ba, bà Năm Cúc đã gọi điện:
– Thơm, cô nghe nói thằng Hiển em họ con qua làm bên nhà máy đó hả?
– Dạ.
– Trời đất ơi. – Bà Năm im một lúc. – Nó làm gì với nhà con hả con?
– Dạ không có gì cô. Nó kiếm chỗ lương cao hơn.
– Ừ. – Bà Năm nói, và Thơm biết bà không tin. – Thôi, con giữ sức. Nghe cái giọng con là cô biết con không ngủ.
Sáng thứ Năm, ngày hai tháng Tư, bốn giờ mười sáng, Thơm té xe.
Đường vô chợ Xóm Lò có một khúc dốc nhẹ, ngay trước dãy hàng cá. Ba giờ sáng, mấy sạp cá hay xịt nước rửa nền, nước lẫn nhớt cá chảy ra lòng đường, đọng thành một lớp mỏng, trơn như mỡ. Thơm chạy qua khúc đó sáu năm nay, sáng nào cũng chạy chậm lại. Sáng nay cô không chạy chậm. Cô đang nghĩ tới mẻ bột thứ chín bị nhão, nghĩ tới chuyện phải gọi cho bà Út Mai xin lỗi vì giao trễ, nghĩ tới mười chín triệu tiền lương phải trả vào ngày năm. Cô không nhớ mình đã bóp thắng hay chưa.
Chiếc xe trượt bánh sau, ngã nghiêng sang trái. Cô văng ra, đầu gối và cùi chỏ đập xuống mặt đường. Rổ bún trên yên sau bật dây, đổ ụp xuống. Hai chục vắt bún buộc dây xanh lăn ra giữa đường, nằm trong vũng nước nhớt cá.
Thơm nằm đó một lúc. Cô không thấy đau ngay. Cô chỉ thấy lạnh, và cô nghe tiếng máy xe vẫn còn nổ, bánh trước còn quay lừ đừ. Rồi cô thấy đau. Đầu gối trái rát buốt. Cô nhìn xuống, ống quần rách một mảng, máu đang thấm ra.
Cô ngồi dậy, tắt máy xe, rồi ngồi luôn giữa đường, nhìn hai chục vắt bún. Cô không khóc. Cô chỉ ngồi đó, nhìn.
Một chiếc xe máy chạy tới, dừng lại. Người lái tắt máy, nhảy xuống, chạy lại.
– Trời đất. Chị chủ bún. Chị có sao không?
Là Trung. Anh mặc cái áo thun xám có vết mỡ, đội cái nón vải, sau xe chở hai thùng nhựa lớn đựng thịt ướp.
– Không sao. – Thơm nói.
– Không sao gì mà máu chảy tùm lum vậy. – Trung ngồi xổm xuống, nhìn đầu gối cô, rồi quay ra xe, mở cái thùng nhựa nhỏ cột ở yên trước. Anh lôi ra một chai nước suối, một cuộn băng keo cá nhân, một chai nước muối sinh lý. – Làm bếp mười mấy năm, đứt tay hoài, tui đi đâu cũng mang theo. Chị ngồi yên.
Anh đổ nước muối lên đầu gối cô. Thơm nghiến răng, không kêu. Anh lau sạch đất cát bằng khăn giấy, dán ba miếng băng keo cá nhân lên vết trầy, rồi làm y vậy với cái cùi chỏ. Tay anh to, đầy vết bỏng cũ, nhưng làm rất nhẹ.
– Xong. – Anh nói. – Về rửa lại bằng xà phòng, thoa thuốc. Không thì nhiễm trùng.
– Cảm ơn anh.
– Chị còn bao nhiêu mối chưa giao?
– Bảy. – Thơm nói. – Bảy mối trong chợ. Mà bún đổ hết rồi.
Trung nhìn hai chục vắt bún trong vũng nước. Rồi anh đứng dậy, dựng xe cô lên, đẩy vô lề.
– Chị ở đây. Tui chạy về xưởng chị lấy bún. Bao nhiêu ký?
– Anh còn phải mở quán…
– Quán tui sáu giờ mới bán. Giờ mới bốn giờ hai chục. – Trung nói. – Chị gọi về xưởng, nói tui tới lấy. Bao nhiêu ký?
– Bảy mối. Chín chục ký.
Trung gật đầu, nổ máy, chạy đi. Thơm ngồi trên lề, gọi về xưởng, nói với Sáu Đẹt. Rồi cô ngồi nhặt từng vắt bún trong vũng nước nhớt cá, bỏ vô cái rổ. Bún dơ rồi, không bán được. Nhưng cô không muốn để nó nằm giữa đường cho xe cán.
Hai mươi phút sau, Trung quay lại, sau xe chở hai rổ bún lớn của xưởng, chồng lên trên hai thùng thịt ướp. Anh đậu xe, nhìn cô.
– Chị chỉ đường. Chị ngồi sau xe tui, tui chở. Xe chị để đây, lát quay lại lấy.
Họ đi giao bảy mối. Thơm ngồi sau xe anh, ôm cái rổ bún trên đùi, đầu gối dán băng keo cá nhân. Ở mỗi quán, cô nhảy xuống giao, xin lỗi vì trễ, rồi leo lên xe lại. Không quán nào hỏi gì về người chở. Có một bà bán bánh canh nhìn Trung một cái thật lâu, rồi nhìn Thơm, rồi cười cười mà không nói. Thơm đỏ mặt mà không biết tại sao mình đỏ mặt.
Năm giờ mười, giao xong. Trung chở cô quay lại chỗ chiếc xe máy. Anh nổ thử máy giùm cô, máy nổ, chỉ có cái gương chiếu hậu bên trái bị bể.
– Chị chạy được không?
– Được.
– Chị ngủ mấy tiếng một ngày?
Thơm không trả lời.
– Tui hỏi vậy thôi. – Trung nói. – Tui làm bếp trên tàu ba năm, có đợt ngủ ba tiếng một ngày suốt hai tháng. Tới tháng thứ ba tui cắt vô tay, vết sẹo nè. – Anh giơ bàn tay trái lên, có một vết sẹo dài trên mu bàn tay. – Không phải tại dao bén. Tại người buồn ngủ.
Thơm nhìn vết sẹo, rồi nhìn anh.
– Anh muốn nói gì?
– Tui muốn nói là sáng nào tui cũng ghé xưởng chị lấy mười lăm ký lúc bốn giờ. – Trung nói. – Đường từ xưởng chị về quán tui đi ngang quán bánh canh với quán hủ tiếu bà Sáu Liễu. Hai mối đó để tui chở cho. Chị bớt được một chuyến.
– Không được. Anh đâu phải người làm của em.
– Thì tui không phải người làm. Tui là khách. – Anh cười, lần đầu tiên cười ra cười. – Khách thì có quyền đòi chủ bún ngủ đủ giấc, để bún mai không bị nhão.
Thơm muốn cãi, mà không biết cãi gì. Cuối cùng cô nói:
– Mai em đưa anh địa chỉ.
– Ừ.
Anh chạy đi, hai thùng thịt ướp lắc lư trên yên sau. Thơm đứng nhìn theo. Cô nhận ra mình vừa xưng "em" với anh lần đầu tiên.
Từ hôm đó, sáng nào Trung cũng ghé xưởng lúc bốn giờ, chở mười lăm ký của anh và bốn chục ký của hai mối bên đường. Anh không nói gì nhiều. Anh đậu xe, bê rổ, cột dây, gật đầu chào ông Tám, chào Sáu Đẹt, rồi đi. Có hôm anh để lại trên bàn một hộp cơm tấm còn nóng. Có hôm là một bịch bánh bò. Chị Lành nhìn mấy hộp đồ ăn đó, nhìn Thơm, nhếch mép, nhưng Thơm biết chị đang nghĩ gì.
Ông Tám thì im. Nhưng một sáng, khi Trung vừa đi, ông nói với Thơm:
– Thằng đó vắt bún đúng tay.
– Sao ba biết?
– Ba thấy nó bê rổ. Nó bê từ dưới đáy lên, không bóp vô vắt bún. Người làm bếp lâu mới biết. – Ông gật đầu. – Được.
Thơm không biết ba cô đang khen ai, khen cái tay bê rổ hay khen cái người bê rổ. Cô không hỏi.
Sáng thứ Hai, sáu tháng Tư, Thơm nhận một phong bì nữa từ ủy ban phường. Lần này không phải giấy báo kiểm tra. Bên trong là bản sao một lá đơn, kèm công văn của phường chuyển tới cơ sở, đề nghị cơ sở giải trình và khẩn trương khắc phục nội dung phản ánh.
Lá đơn viết tay, ba trang. Tiêu đề: "Đơn phản ánh về việc cơ sở sản xuất bún gây ô nhiễm môi trường, xả nước thải trực tiếp ra rạch Xóm Lò và gây mùi hôi ảnh hưởng đời sống bà con". Người viết đơn ký tên "Các hộ dân sống dọc bờ rạch Xóm Lò". Trang cuối có mười bốn cái chữ ký, mỗi chữ ký kèm họ tên viết tay và số nhà.
Thơm đọc kỹ từng cái tên. Cô biết gần hết. Bà Tư bán nước mía ở số mười tám. Ông Năm sửa xe ở số hai mươi hai. Anh Đức làm thợ hồ ở số ba mươi. Mấy người đó đúng là sống dọc bờ rạch. Mấy người đó đúng là ngửi thấy cái mùi chua mỗi sáng.
Rồi cô dừng ở cái tên thứ mười một. Lư Văn Kiệt, số bốn mươi sáu.
Nhà số bốn mươi sáu đã bán cho người khác từ hai năm trước. Chú Kiệt đã dọn lên Thủ Dầu Một ở với con gái. Cô nhớ rõ vì chính cô chở mười ký bún tới bữa tiệc chia tay của chú.
— Hết chương 10 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe