Chương 11: Nước chua ra rạch
– Ký chớ sao không ký. Người ta nói ký cho phường nạo vét rạch mà.
Bà Tư bán nước mía ở nhà số mười tám nói câu đó trong lúc tay vẫn đút cây mía vô máy ép. Cái máy rè rè, nước mía xanh chảy xuống cái ca nhựa, bọt trắng nổi lên. Thơm đứng bên cạnh, cầm bản sao lá đơn.
– Ai đưa cô ký vậy cô Tư?
– Một thằng nhỏ. Trẻ trẻ, đeo khẩu trang, nói làm bên tổ dân phố. Nó đi từng nhà, nói rạch dơ quá, bà con ký vô cho phường xuống nạo vét. Cô ký. Thằng Năm sửa xe cũng ký. Ai mà không muốn rạch sạch hả con.
– Dạ. Nó có đọc cái đơn cho cô nghe không?
– Đọc gì. Nó chìa tờ giấy chỗ ký tên thôi. – Bà Tư rót ly nước mía, thả thêm hai trái tắc, đưa cho Thơm. – Uống đi con. Mà sao, cái đơn đó viết gì?
Thơm đưa bà coi. Bà Tư đeo cặp kính lão lên, đọc chậm rãi, môi mấp máy. Tới chữ "cơ sở sản xuất bún gây ô nhiễm" thì bà dừng lại.
– Ủa. Nó nói là đơn nạo vét rạch mà.
– Dạ.
Bà Tư cởi kính ra, nhìn Thơm, rồi nhìn ra bờ rạch phía sau nhà, nơi có cái ống nhựa xưởng bún chĩa xuống nước.
– Mà nói thiệt với con, con đừng giận cô. – Bà nói, giọng chậm lại. – Cái mùi chua thì có thiệt. Sáng nào cũng có. Mùa nắng như vầy thì nồng lắm. Hồi tháng Ba, sau cái bữa con đổ mấy thau bún hư ra hố rác, cá ngoài rạch chết nổi trắng một khúc. Thằng cháu cô nó ho cả tuần. Cô không biết có phải tại cái mùi không. Mà cô nói thiệt.
Thơm đứng im. Ly nước mía trên tay lạnh buốt.
– Dạ. Cô nói thiệt là đúng.
Cô đi hết mười bốn nhà trong hai ngày. Mười hai người nói y như bà Tư: có một thằng nhỏ đeo khẩu trang tới, nói đơn nạo vét rạch, chìa chỗ ký. Ông Năm sửa xe nói thêm thằng nhỏ đi xe máy biển số tỉnh, ông để ý vì ông sửa xe. Anh Đức thợ hồ không có nhà, vợ anh ký giùm. Chữ ký của chú Lư Văn Kiệt, số bốn mươi sáu, thì không ai biết ai ký. Căn nhà đó giờ là một tiệm giặt ủi, cô chủ tiệm mới thuê từ năm ngoái, chưa từng nghe tên chú Kiệt.
Thơm gọi lên Thủ Dầu Một. Chú Kiệt nghe xong thì cười khà khà trong điện thoại, nói chú dọn đi hai năm rồi, ký cái gì, ma nó ký à.
Nhưng mười hai người còn lại thì có ngửi thấy mùi chua thật. Cá chết thật. Thằng cháu bà Tư ho thật, dù không ai biết có phải tại cái mùi không.
Tối thứ Tư, Thơm ngồi với ba.
– Ba, người ta gài mình. Thằng nhỏ đeo khẩu trang đó nói láo với bà con, rồi ký giả tên chú Kiệt. Con đi hỏi rồi, có người làm chứng.
– Ừ.
– Mà cái mùi chua là thiệt. Cái ống nước ra rạch là thiệt. Đoàn kiểm tra cũng nói rồi, cho mình sáu chục ngày. Mình mới làm có… – Cô đếm. – Mình chưa làm gì hết.
Ông Tám nhìn ra cái ống nhựa.
– Năm hai ngàn lẻ sáu, cả xóm Lò lò nào cũng xả ra rạch. – Ông nói. – Lò bánh tráng, lò bánh phở, lò bún. Giờ chỉ còn mình với hai lò bánh cuốn trên đầu rạch.
– Dạ. Mà người ta chỉ kiểm tra mình.
– Ừ. – Ông Tám quay lại nhìn con gái. – Vậy con tính sao?
Thơm đã tính rồi. Cô tính từ lúc đứng ở nhà bà Tư.
– Con không cãi cái đơn. Cái chữ ký giả thì con báo phường, có chú Kiệt làm chứng. Còn cái nước thì mình sửa. Sửa cho đàng hoàng. Để mai mốt ai đưa đơn kiểu gì thì cũng không có cái gì để ký.
Ông Tám nhìn cô một lúc lâu, như nhìn một người lạ.
– Sửa bằng gì? – Ông hỏi. – Tiền đâu?
– Tiền con.
Ông Tám mở miệng định nói, rồi thôi.
Ông Kiều Văn Giáp ở nhà số chín đầu hẻm, bảy mươi mốt tuổi, kỹ sư thủy lợi về hưu, là người cả xóm hay tránh vì ông thích giảng. Ra chợ mua bó rau ông cũng giảng về độ mặn của nước tưới. Thơm tới nhà ông lúc tám giờ sáng thứ Năm, mang theo một ký bún và hai ổ bánh mì, và ông giảng cho cô nghe liền hai tiếng đồng hồ.
– Nói cho cháu nghe nè. Nước thải lò bún có ba cái thứ. – Ông Giáp lấy cây bút bi, vẽ lên mặt sau tờ lịch. – Một là bột. Bột gạo lơ lửng, nặng hơn nước, để yên là nó lắng. Hai là cái chua. Nước ngâm gạo lên men, có axit, có mùi. Ba là nhiệt. Nước luộc bột xả ra nóng, nóng đổ thẳng ra rạch thì cá ngộp. Cá chết hồi tháng Ba là vì cái thứ ba với cái thứ nhất, chứ chưa chắc vì cái chua.
– Dạ.
– Cháu không cần làm hệ thống xử lý của nhà máy. Lò nhỏ thì làm bể lắng ba ngăn. – Ông vẽ ba cái ô vuông nối nhau. – Ngăn một có song chắn rác, bắt mấy mẩu bún vụn, lá chuối, dây lác. Ngăn hai lắng bột, đáy dốc về một góc, mỗi tuần vét một lần. Ngăn ba cho nước nguội bớt, có cái vách tràn ở trên, nước trong mới chảy qua. Cuối cùng nối vô cống thoát nước của hẻm, không chĩa ra rạch nữa. Nước ngâm gạo thì đừng xả một lần. Xả từ từ, trộn chung với nước rửa cho loãng.
– Bột lắng thì làm gì ông?
– Cái đó thì cháu hỏi đúng người. – Ông Giáp cười khà. – Bột lắng là đồ ăn cho heo. Ông có thằng bạn nuôi heo dưới Bình Chánh cũ, nó mua bã đậu, bã bia, bột lắng lò bún. Một thùng sáu chục lít nó trả cho cháu ba trăm ngàn. Không nhiều. Mà đỡ phải đổ.
Thơm nhìn ba cái ô vuông trên tờ lịch.
– Bao nhiêu tiền ông?
– Gạch, cát, xi măng, ống, cái nắp bê tông, tiền công thợ. – Ông Giáp nhẩm. – Hai lăm, ba chục triệu.
Thơm có sáu chục triệu trong tài khoản tiết kiệm. Đó là tiền cô dành từ năm hai mươi, mỗi tháng ba cô đưa một ít, cô bỏ vô, để mai mốt đi học lại. Cô chưa bao giờ đụng tới nó.
Cô rút hai mươi tám triệu chiều hôm đó.
Thợ hồ là anh Lợi, em họ của Trung, ở dưới Cần Đước lên làm công trình. Trung gọi anh qua, nói "làm cho người quen, làm kỹ giùm tao". Anh Lợi người to như cái lu, ít nói, tay làm nhanh tới mức ông Giáp phải đứng bên cạnh la "từ từ, từ từ, để tui đo cái độ dốc". Hai người cãi nhau suốt tám ngày, một người giảng, một người không nghe, mà cái bể vẫn lên đúng như hình vẽ trên tờ lịch.
Mấy ngày đó, xưởng vẫn chạy. Nước thải được hứng vô mấy cái thùng phuy tạm, đợi bể xong mới xả. Thơm với Toàn khiêng thùng phuy ra cống hẻm lúc nửa đêm, đổ từ từ, như ông Giáp dặn. Lưng cô đau như bị ai đánh.
Ông Tám không nói gì về cái bể. Ông chỉ đi ra coi mỗi chiều, đứng nhìn anh Lợi tô xi măng, rồi đi vô. Có một chiều, Thơm thấy ông ngồi chồm hổm bên cái ống nhựa cũ chĩa ra rạch, cái ống mà anh Lợi đã cắt đứt, bịt lại. Ông ngồi đó, tay sờ lên cái miệng ống, tới khi trời sập tối.
Thứ Sáu tuần sau, bể xong. Anh Lợi xả nước thử. Nước từ ngăn một chảy qua ngăn hai, đục ngầu. Từ ngăn hai qua ngăn ba, đã bớt đục. Từ ngăn ba tràn ra cống hẻm, nước gần trong, chỉ còn hơi ngà như nước vo gạo lần thứ ba.
Ông Giáp nhúng ngón tay vô nước ở ngăn ba, đưa lên mũi ngửi, rồi gật đầu.
– Được. Không bằng nhà máy, mà được.
Rồi Thơm làm một việc nữa. Mỗi nhà trong mười bốn nhà ký đơn, cô đem tới một ký bún, một tờ giấy in hình cái bể lắng, có ghi ngày làm xong. Cô không xin lỗi bằng lời dài. Cô chỉ nói: "Dạ, cái ống ra rạch con bịt rồi. Nước giờ đi qua bể lắng, ra cống hẻm. Cô chú có thấy còn mùi thì nói con."
Bà Tư nước mía cầm tờ giấy, nhìn cái hình, rồi nói:
– Con làm cái này hết bao nhiêu?
– Dạ, hai mươi tám triệu.
– Trời đất ơi. – Bà Tư lắc đầu. – Con đi ký giùm cô cái đơn khác đi, cô ký là cô rút lại cái đơn kia.
Thơm cười, lần đầu tiên trong tuần.
Thứ Ba, hai mươi mốt tháng Tư, chị Hoài với anh Nhân tới kiểm tra lại. Anh Nhân đi coi cái bể lắng, coi cái ống bịt, lấy một chai nước ở ngăn ba. Chị Hoài đọc lời giải trình của Thơm, kèm lời xác nhận của chú Kiệt rằng chú không ký đơn, kèm danh sách mười hai hộ dân nói rằng họ được đưa ký với lý do nạo vét rạch.
– Cái chữ ký giả thì phường ghi nhận, phường chuyển qua bên công an xác minh. – Chị Hoài nói, giọng chậm, cẩn thận. – Còn cái nước thì cơ sở khắc phục rồi, phường ghi vô biên bản. Mà nói thiệt với em, phường cũng sẽ nhắc mấy cơ sở khác dọc rạch. Không chỉ nhà em.
– Dạ. Em cảm ơn chị.
Lúc đoàn về, chị Hoài đứng lại ở cửa xưởng một chút, nhìn cái lu.
– Mẫu nước trong lu hôm trước, phòng kiểm nghiệm ghi chú là độ chua cao mà sạch. – Chị nói. – Chị đọc tờ kết quả mà chị tò mò. Cái lu đó thiệt là từ năm chín mươi ba hả em?
– Dạ, ba em nói vậy.
Chị Hoài cười, gật đầu, rồi đi.
Tối hôm đó, gần chín giờ, Thơm đang chuẩn bị đi ngủ thì nghe tiếng ai gọi ở cửa xưởng. Cô ra. Bà Năm Cúc đứng đó, tay xách một cái nồi nhôm nhỏ có nắp, bọc trong cái khăn rằn. Mặt bà đỏ, tóc rối, như vừa đi bộ một đoạn dài trong gió.
– Cô Năm? Có chuyện gì vậy cô?
– Ông Hai Lũy bỏ quán cô rồi con. – Bà Năm nói, giọng nghẹn. – Hai mươi năm, sáng nào ổng cũng ăn ở quán cô một tô riêu, ngồi đúng cái ghế sát cột. Sáng nay ổng ăn được nửa tô, ổng bỏ đũa xuống, ổng nói "bà Năm, bún gì mà trơn như sợi nhựa, riêu không bám". Ổng trả tiền, ổng nói mai ổng ăn chỗ khác.
Bà mở cái khăn rằn, giở nắp nồi. Mùi riêu cua bốc lên, ngọt, chua, thơm lựng trong không khí đêm.
– Nồi này cô nấu cho chú Tám ăn khuya, nấu đúng như nấu ngoài quán, con đưa chú giùm cô. – Bà nói, đặt cái nồi lên băng ghế. – Bún nhà máy thì cô có sẵn, cô để trong tủ mát của tụi nó. Sáng mai, bốn giờ, con đem qua nhà cô một vắt bún nhà con mới ra lò, còn nóng. Cô muốn thử một chuyện. Mà cô không thử một mình được.
— Hết chương 11 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe