Chương 20: Bốn trăm triệu, ba mươi ngày
Luật sư Mai Thanh Hà đọc tờ giấy nhận đặt cọc ba lần, lần nào cũng đọc từ chữ đầu tới chữ cuối, kể cả mấy dòng số căn cước. Rồi chị mới tháo cặp kính gọng mảnh ra, đặt lên cái bàn gỗ dài.
Bốn giờ chiều Chủ Nhật. Xưởng chưa lên ca. Nắng hắt qua mấy lỗ thủng trên mái tôn, nóng hầm hập. Ông Tám ngồi ở đầu bàn, Thơm ngồi bên phải ông, Trung đứng sau lưng chị anh, tay cầm hai ly nước mía mua ở nhà bà Tư.
– Dạ, con nói chú nghe. – Chị Hà quay qua ông Tám, không quay qua Thơm. – Giấy này chú ký, chú là người nhận cọc. Con Thơm không ký thay chú được. Muốn không bán nữa thì chính chú phải là người nói không, bằng giấy, có chữ ký của chú.
– Ừ. – Ông Tám nói.
– Giấy ghi rõ. Bên nhận cọc từ chối giao kết hợp đồng thì trả lại tiền cọc và một khoản tiền tương đương. Hai trăm cọc, hai trăm tương đương. Bốn trăm. – Chị Hà gõ nhẹ ngón tay lên dòng chữ. – Giấy không ghi gì khác, không có điều nào cho bớt, không có điều nào cho trả góp. Bên kia không chịu bớt thì mình trả đủ.
– Trả bằng gì chị? – Thơm hỏi. – Tiền mặt hay chuyển khoản?
– Bên kia chuyển khoản cọc thì mình chuyển khoản trả, vô đúng tài khoản họ chuyển ra. Có biên nhận, ghi rõ trả cho giấy cọc nào, ngày nào. Có người làm chứng, người không dính gì tới hai bên. Làm trước hạn hoặc đúng hạn, đừng để qua ngày ba mươi. – Chị nhìn ông Tám. – Qua ngày đó, bên kia nói chú không ký mà cũng không trả, thành chuyện khác. Con không muốn chú dính chuyện khác.
– Ừ.
– Còn một chuyện nữa. – Chị Hà nói chậm hơn. – Con không biết ông Vinh là người thế nào. Nhưng người ta bỏ hai trăm triệu ra cọc là người ta muốn mua thiệt. Có thể người ta gọi chú, nói chuyện với chú. Chú muốn đổi ý lại thì đó là quyền của chú. Con chỉ nói với chú là giấy nó viết vậy, mình làm đúng vậy. Chuyện chú bán hay không bán, con không khuyên.
Ông Tám nhìn chị Hà một lúc, rồi gật đầu. Thơm thấy ông gật đầu kiểu như gật đầu với ông Giáp hôm ông Giáp nhúng tay vô ngăn bể thứ ba: được, không bằng nhà máy, mà được.
Chị Hà về rồi, Trung ở lại. Anh ngồi xuống chỗ chị anh vừa ngồi, nhìn tờ giấy cọc, rồi nhìn Thơm.
– Năm chục triệu của anh vẫn còn đó.
– Em biết.
– Em đừng nói "không được" nữa. – Trung nói. – Lần này em nói "dạ" đi.
Thơm nhìn anh. Cô nhìn ba. Ông Tám đã đứng dậy, đi ra phía cái lu, quay lưng lại bàn, như người không nghe chuyện của người khác.
– Em mượn. – Thơm nói. – Em viết giấy. Có ngày trả.
– Ừ, viết đi.
Cô lấy một tờ giấy trong tập hóa đơn mua gạo, lật mặt sau, viết. Tôi tên Đỗ Ngọc Thơm, có mượn của anh Mai Quốc Trung số tiền năm mươi triệu đồng, ngày ba mươi mốt tháng Năm năm hai ngàn không trăm hai mươi sáu. Hẹn trả hết trước ngày ba mươi mốt tháng Mười hai cùng năm. Cô ký, đưa cho anh.
Trung cầm tờ giấy, đọc. Anh đọc chậm, từng chữ, ngón tay lần theo dòng, y như hôm anh chỉ cho cô cái trang ba trong hợp đồng Hòa Lộc. Rồi anh mượn cây bút của cô, viết thêm một dòng ở cuối, chữ to, nghiêng về bên phải: "Không tính lãi. Trễ hạn cũng không tính lãi." Anh ký tên mình bên dưới.
– Cái gì có chữ nhỏ là phải đọc từng chữ. – Anh nói, đưa lại cho cô. – Mà cái gì mình viết thì mình viết to.
Thơm cầm tờ giấy, không nói được gì. Ngoài bờ rạch, con vịt xiêm nhà ai kêu khàn khàn.
Tối đó, trước giờ lên ca, Thơm mở ngăn kéo cái bàn nhỏ trong phòng mình, lấy ra cái phong bì Khoa đưa ở cổng nhà máy hồi tháng Tư. Ngày ba mươi mốt tháng Năm. Hôm nay là ngày cuối cùng lời mời còn hiệu lực. Cô xé phong bì.
Thư mời làm việc, hai trang. Vị trí: giám sát chất lượng dòng sản phẩm bún tươi. Lương khởi điểm hai mươi lăm triệu đồng, thử việc hai tháng, đóng bảo hiểm đầy đủ, thưởng theo năm. Thời gian làm việc: hành chính, từ bảy giờ rưỡi sáng tới bốn giờ rưỡi chiều. Cô đọc tới dòng đó thì dừng lại một chút. Bảy giờ rưỡi sáng. Từ năm hai mươi mốt tuổi cô chưa từng thức dậy lúc bảy giờ rưỡi sáng mà không phải vì vừa giao xong chuyến cuối.
Trang thứ hai có một điều khoản ở gần cuối, chữ nhỏ hơn mấy điều khác. Người lao động cam kết không làm việc, không tư vấn, không góp vốn cho bất kỳ cơ sở sản xuất bún tươi nào khác trên địa bàn thành phố. Cam kết này kéo dài hai mươi bốn tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, vì bất kỳ lý do gì. Vi phạm thì bồi thường số tiền tương đương mười hai tháng lương.
Thơm đọc lại câu đó hai lần. Rồi cô bật cười, một mình trong phòng, cười tới mức phải lấy tay bịt miệng cho ba khỏi nghe.
Ba tháng cho không là chín tháng khóa cửa. Hai mươi lăm triệu một tháng là hai năm khóa tay.
Cô gấp tờ thư lại, bỏ vô phong bì, cất vô ngăn kéo. Cô không xé. Cô nghĩ có ngày cô sẽ đưa nó cho Trung coi, để anh cười.
Đêm Chủ Nhật, ca đêm chạy như mọi đêm. Tới giờ nghỉ uống nước lúc một giờ, Thơm kêu cả xưởng lại cái bàn gỗ dài. Sáu Đẹt, chị Lành, Toàn, ba cô. Cô không giấu ai nữa.
– Bốn trăm triệu. Hạn ba mươi tháng Sáu. Mình có một trăm tám mươi tư. Anh Trung cho mượn năm chục. Còn thiếu một trăm sáu mươi sáu.
Không ai nói gì.
– Em bán chiếc xe máy được không chị Hai? – Toàn hỏi.
– Bán rồi lấy gì giao bún?
– Hay mình đăng lên trang của xưởng. – Toàn nói, giọng nhỏ hơn. – Cái clip cúp điện một triệu hai người coi. Mình kể chuyện, mình xin…
– Không. – Thơm nói. Cô nhìn qua ba. Ông Tám ngồi trên cái ghế nhựa đỏ, bàn tay trái đặt trên đùi. – Ba nói ba bán bún, ba không bán cái tay. Chị cũng không bán cái chuyện nhà mình. Mình không xin ai.
Toàn cúi đầu. Chị Lành chép miệng. Sáu Đẹt nhìn xuống ly nước.
Một lúc lâu, ông Tám nói. Không phải nói với ai, ông nói như người nhớ ra một chuyện cũ:
– Năm chín mươi lăm, lò mình hết tiền mua gạo. Bà Hai Lựu hồi đó chưa cho chịu, mới quen. Má con đi từng quán, xin người ta ứng trước tiền bún một tuần. Ứng trước thì bớt cho người ta mấy trăm một ký. Chị Năm ứng đầu tiên. Bảy quán ứng. Đủ tiền mua gạo.
Ông nói xong thì đứng dậy, đi coi bồn ngâm, như vừa nói chuyện thời tiết. Thơm nhìn theo ba. Ba đã nói ba đứng ngoài. Ba đứng ngoài thật, chỉ có điều ba đứng ngoài ở cái chỗ cô nhìn thấy được.
Cô ngồi tính tới sáng.
Sáng thứ Hai, ngày một tháng Sáu, ngày đầu tiên các quán ký với Hòa Lộc bắt đầu phải trả mười ba ngàn rưỡi một ký, Thơm in hai trăm tờ phiếu ở tiệm photo đầu chợ. Tờ phiếu nhỏ bằng bàn tay, giấy màu xanh lá non, cái màu cô chọn theo sợi dây lác. Trên phiếu chỉ có mấy dòng: "Phiếu đặt bún trước – xưởng bún Tám Rạng, hẻm 72. Mười ký bún. Dùng từ 1/7 tới 30/9. Mười tám ngàn một ký." Có chỗ cho chị Lành ký tên, có chỗ đóng con dấu hình con cá mà Toàn khắc bằng một cục tẩy, cái hình y như vết trám trên hông lu.
Bán lẻ ngoài cửa sổ là hai chục ngàn một ký. Mua phiếu trước thì mười tám.
Còn với các quán, cô làm một tờ giấy khác. Quán nào trả trước tiền bún tháng Bảy thì tính mười bốn ngàn một ký thay vì mười lăm. Bún vẫn giao mỗi sáng như cũ, chỉ là tiền vô trước.
Cô cũng tính cái giá phải trả. Tiền vô tháng Sáu thì tháng Bảy xưởng vẫn phải mua gạo, mua ga, trả điện, trả lương, mà bún giao ra không có tiền vô. Cô ngồi chia con số ra từng ngày, cuối cùng ghi ở cuối bảng tính một dòng: tháng Bảy làm không có lời, chỉ đủ gạo nếu bà Hai Lựu cho chịu thêm. Cô biết dòng đó là thật.
Chị Lành bán tờ phiếu đầu tiên lúc bốn giờ mười sáng thứ Hai, cho bà cụ ở hẻm bên hay mua một ký nấu bún mọc. Bà cụ cầm tờ phiếu xanh, lật qua lật lại, hỏi "tháng Bảy con có còn làm không đó". Chị Lành nói "dạ còn chứ cô, không còn thì con trả tiền lại", bà cụ cười, móc trong túi áo ra hai tờ một trăm ngàn, không lấy tiền thối.
Sáng thứ Hai bán được mười chín phiếu. Thứ Ba hai mươi sáu. Thứ Tư, có một anh công nhân mua luôn năm phiếu, nói cho cả phòng trọ.
Các quán thì chậm hơn. Thơm đi từng quán, nói chuyện đúng như má cô đã nói ba mươi mốt năm trước. Bà Út Mai ở tiệm chay đầu hẻm nghe xong thì đi vô trong, mở tủ, lấy ra một xấp tiền, đưa cho cô tiền bún hai tháng.
– Một tháng thôi cô. – Thơm nói.
– Hai tháng. – Bà Út Mai nói. – Cô ăn chay ba chục năm, cô biết cái gì nên giữ. Mà con khỏi bớt giá cho cô. Mười lăm ngàn như cũ. Bớt chi.
– Dạ không được, phiếu ghi mười bốn…
– Cô không cầm phiếu. Cô cầm bún. – Bà Út Mai đẩy xấp tiền vô tay cô. – Đi đi, còn nhiều quán.
Cô Diệu bún bò hẻm bốn mốt trả trước một tháng. Bà Hiền cơm tấm trả trước một tháng. Bà Sáu Liễu thì hỏi đi hỏi lại "trả trước rồi tháng Bảy con có giao trễ không", Thơm nói không, bà Sáu Liễu nói "trễ một bữa là cô đòi tiền lại một bữa", rồi đếm tiền.
Có quán không trả. Quán bánh canh ở dãy ngoài nói tháng này kẹt. Xe bánh hỏi heo quay ở chợ Phú Lâm nói để coi. Thơm không nói thêm câu nào. Cô cảm ơn, rồi đi quán khác.
Tối thứ Năm, Toàn cộng sổ. Thằng nhỏ cộng ba lần cho chắc.
– Hai mươi bốn triệu sáu chị Hai. Bốn ngày.
Thơm gõ con số vô bảng tính. Bốn trăm trừ một trăm tám mươi tư, trừ năm chục của Trung, trừ hai mươi bốn triệu sáu. Còn thiếu một trăm bốn mươi mốt triệu bốn.
Hai mươi lăm ngày.
Chiều thứ Sáu, ngày năm tháng Sáu, Thơm đi chợ gạo về muộn vì bà Hai Lựu giữ lại nói chuyện cả tiếng. Bà Hai Lựu đã nghe chuyện phiếu đặt bún, mua luôn mười phiếu, nói "tao không ăn bún, tao mua cho mấy đứa bán rau dưới sạp tao". Thơm chạy xe vô hẻm bảy mươi hai, trong đầu nhẩm thêm một triệu tám.
Chị Lành đứng chờ cô ở đầu hẻm. Chị đứng dưới cây trụ điện, khoanh tay, mặt đanh lại như hôm nghe chuyện thằng Hiển.
– Em về rồi hả. – Chị nói. – Lại đây coi.
– Chuyện gì chị?
Chị Lành không trả lời. Chị chỉ tay về phía cuối hẻm, phía bờ rạch.
Ngoài bờ rạch, trên khúc gỗ dầu, có hai người đang ngồi. Một người nhỏ thó, đen bóng, cái nón vải cầm trên tay. Một người mặc áo sơ mi xanh nhạt bỏ thùng, giày tây đặt ngay ngắn trên một tấm bìa cứng cho khỏi dính bùn.
– Ông Khoa tới hồi bốn giờ. – Chị Lành nói. – Ổng không vô xưởng. Ổng kêu anh Sáu ra. Hai người ngồi đó nửa tiếng rồi.
— Hết chương 20 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe