Chương 15: Tiếng xưởng lúc ba giờ
Clip dài năm mươi hai giây, không có một chữ nào, không có nhạc, và tới sáng thứ Hai, hai mươi bảy tháng Tư, nó đã có một triệu hai trăm ngàn lượt xem.
Thơm không biết thằng Toàn quay nó lúc nào. Cô chỉ nhớ đêm cúp điện, thằng nhỏ cầm đèn pin, rọi chỗ này chỗ kia, và cô tưởng nó chỉ rọi đèn. Hóa ra một tay nó cầm đèn, một tay cầm điện thoại.
Clip mở đầu bằng một màn hình đen thui, chỉ có tiếng. Tiếng nước sôi lục bục. Tiếng con thạch sùng tặc lưỡi. Rồi ánh đèn pin rọi lên mái tôn, rọi lên cái cối gỗ phủ bụi trên hai cây xà. Rồi cảnh Sáu Đẹt đứng trên thang. Cảnh chị Lành dội nước sôi lên cái khuôn đồng, bột khô mấy chục năm bong ra. Cảnh Trung ngồi lên đầu cây đòn cà chít, mặt nhăn lại, và sợi bún trắng ngà đầu tiên chảy ra khỏi khuôn, rơi xuống chảo. Cảnh hai bàn tay chị Lành vắt bánh hỏi trên lá chuối, mỏng như lụa. Cảnh Thơm ngồi ép khuôn bánh hỏi, nước mắt nhỏ lên lá chuối, cô lấy vai áo chùi.
Rồi cảnh cuối, mười hai giây, quay cận một bàn tay trái. Ngón cái bấm lên từng đốt ngón tay. Ngón trỏ. Ngón giữa. Rồi một cái mỏm ngón tay cụt hồng hồng, chỉ còn một đốt. Rồi ngón út. Rồi quay lại ngón trỏ. Tiếng nước sôi vẫn lục bục phía sau. Clip hết ở đó.
Toàn đăng nó lên trang của xưởng lúc tám giờ tối thứ Bảy, sau khi Thơm ở nhà hàng Hoa Viên về, ngủ một giấc tới tối. Thằng nhỏ đặt tên clip đúng ba chữ: "Đêm cúp điện".
Tới sáng Chủ Nhật, ba trăm ngàn lượt xem. Tới tối Chủ Nhật, tám trăm ngàn. Sáng thứ Hai, một triệu hai.
Gấp bốn lần cái clip hàn the.
– Chị coi bình luận đi chị Hai. – Toàn nói, mắt sáng rỡ, chìa điện thoại cho Thơm. – Coi đi.
Thơm coi. Có người viết "nghe tiếng nước sôi mà muốn khóc". Có người viết "nhà tôi ở Phú Lâm mà không biết có lò bún này". Có người viết "bàn tay ông cụ đếm mẻ, xem ba lần rồi". Có người hỏi địa chỉ. Có người hỏi bán lẻ không. Có người hỏi có giao tận nhà không. Có người viết "đây có phải cái xưởng bị tố hàn the hồi tháng Ba không", và bên dưới có tới bốn chục người trả lời, gắn đường dẫn tờ kết quả kiểm nghiệm.
Cô đọc tới cái bình luận thứ năm trăm thì thôi, vì cô không đọc được nữa. Mắt cô cay.
Bốn giờ sáng thứ Ba, lúc Trung tới lấy bún, đầu hẻm bảy mươi hai có sáu người đứng chờ.
Cả sáu đều là người lạ. Hai anh công nhân mặc đồng phục xanh, mới tan ca đêm ở khu công nghiệp. Một chị tài xế xe ôm còn đội nón bảo hiểm. Một bà cụ ở hẻm bên, tay xách cái giỏ nhựa. Một cặp vợ chồng trẻ chở đứa con nhỏ đang ngủ gục trước yên xe. Họ đứng đó, dưới ngọn đèn đường vàng vọt, nhìn vô trong hẻm.
– Ở đây là xưởng bún cái clip cúp điện phải không em? – Một anh công nhân hỏi Trung.
– Dạ phải. – Trung nói, rồi quay vô la lớn: – Thơm ơi! Khách!
Thơm đi ra, tay còn dính bột. Cô nhìn sáu người lạ. Sáu người lạ nhìn cô.
– Em bán lẻ không em? – Bà cụ hỏi. – Cô mua một ký về nấu bún mọc cho mấy đứa cháu.
– Dạ có. – Thơm nói, mà cô chưa biết mình sẽ bán lẻ ở chỗ nào. – Dạ có, cô đợi con chút.
Sáng đó cô bán được mười hai ký ngay ở đầu hẻm, bằng cái bàn xếp của Toàn, cái cân đồng hồ của chị Lành, và mấy tấm lá chuối gói bún. Hai anh công nhân mua mỗi người một ký, nói đem về cho vợ. Chị tài xế xe ôm mua nửa ký, đứng ăn luôn một vắt bún không, chấm với nước mắm Thơm rót vô cái chén nhựa cho, rồi khen ngon. Cặp vợ chồng trẻ mua hai ký, xin chụp hình với cái lu. Thơm nói cái lu không cho chụp. Họ chụp với cái cối gỗ.
Sáng thứ Tư, đầu hẻm có mười một người. Sáng thứ Năm, mười chín.
Thứ Sáu, Thơm dời cái bàn xếp vô sát cửa xưởng, mở cánh cửa sổ nhỏ bên hông xưởng, cái cửa sổ ba cô đóng bằng đinh từ năm hai ngàn mười hai vì sợ trộm. Cô kê cái bàn ngay dưới cửa sổ, dán lên đó tờ giấy viết tay: "Bán lẻ từ 4 giờ tới 6 giờ sáng. Hai chục ngàn một ký. Mang giỏ theo giùm, xưởng gói lá chuối". Rồi cô giao cái cửa sổ đó cho chị Lành, vì chị Lành cân nhanh nhất, nói chuyện với khách vui nhất, và vì chị Lành nói "chị ngồi đây là chị khỏi phải đứng máy, chị lạy em".
Tuần đầu tiên, cửa sổ bán lẻ bán được trung bình năm chục ký mỗi sáng. Bảy mối mới gọi tới: hai quán bún bò, một quán bún mắm ở phía Bình Trị Đông, một xe bánh hỏi heo quay ở chợ Phú Lâm, ba tiệm ăn chay. Ba mươi mối, giờ ba mươi bảy. Xưởng chạy lại được năm trăm sáu chục ký mỗi đêm.
Chị Mận gửi tin nhắn vào sáng thứ Tư, sau khi nhận mười ký bún mẫu hôm thứ Ba. Tin nhắn chỉ có hai dòng: "Bún đạt. Bếp trưởng bên tôi nói ngon hơn nhà cung cấp hiện tại. Khi nào chị đủ một tấn một buổi, gọi tôi." Thơm đọc tin nhắn đó ba lần, rồi cất điện thoại, không trả lời được.
Ông Tám không coi cái clip. Ông không có điện thoại thông minh, ông xài cái điện thoại bấm nút cũ, chỉ để nghe. Nhưng ông biết. Cả chợ Xóm Lò biết, và chợ Xóm Lò không giữ được bí mật nào quá một buổi sáng.
Chiều thứ Sáu, ông đi chợ gạo của bà Hai Lựu. Ông về, mặt sầm sì, đi thẳng vô xưởng, kêu thằng Toàn.
– Mày quay tay tao hả?
Toàn đứng im, mặt tái.
– Dạ… dạ con quay cái cảnh ba đếm mẻ…
– Bà Hai Lựu nói cả Sài Gòn coi cái tay cụt của tao. – Ông Tám nói, giọng không lớn, nhưng từng chữ như đá rơi. – Bả nói người ta bình luận thương ông già cụt ngón. Tao cần ai thương? Tao bán bún, tao không bán cái tay.
– Ba. – Thơm bước tới.
– Mày im. – Ông Tám không quay lại. – Toàn, xóa đi.
Toàn nhìn Thơm. Thơm nhìn ba. Ông Tám đứng đó, cái áo thun ba lỗ dính bụi gạo, bàn tay trái nắm lại thành nắm đấm, giấu cái mỏm ngón áp út vô trong.
– Ba, con xin ba. – Thơm nói. – Cái clip đó đem về cho mình bảy mối. Mỗi sáng năm chục ký bán lẻ. Người ta coi cái clip đó không phải vì thương ba. Người ta coi vì người ta thấy cái nghề.
– Cái nghề thì không có cái tay cụt.
– Có. – Thơm nói. – Cái nghề có cái tay cụt của ba. Có nước mắt của con. Có hai bắp đùi run của anh Trung. Có cái cối má với ba đẽo năm chín mươi ba. Cái nghề là vậy.
Ông Tám quay lại nhìn cô. Thơm thấy mắt ông đỏ.
– Mày biết má mày chết vì cái gì không?
Cả xưởng im phăng phắc. Sáu Đẹt đang khiêng bao gạo, đặt xuống, đứng im. Chị Lành ở cửa sổ bán lẻ, quay lại.
– Dạ, đột quỵ.
– Đột quỵ sau ca đêm. – Ông Tám nói. – Hai mươi bảy năm má mày thức từ mười giờ tối tới năm giờ sáng. Hai mươi bảy năm. Bữa đó ca xong, má mày ngồi xuống cái ghế nhựa này, nói "anh Tám, em mệt quá", rồi má mày không đứng dậy nữa. Năm mươi lăm tuổi.
Thơm đứng im. Cô biết má mất sau ca đêm. Cô không biết câu "anh Tám, em mệt quá". Không ai kể cho cô nghe câu đó.
– Ba không cho con đứng máy. – Ông Tám nói, giọng bỗng nhỏ lại. – Ba không cho con thức đêm. Ba đưa tiền cho con bỏ ống, để mai mốt con đi học lại, con làm kỹ sư, con làm cái gì cũng được, miễn đừng làm cái nghề thức đêm này. Rồi ba bị kẹp tay. Rồi con đứng máy. Rồi con lấy tiền học của con xây cái bể nước thải. Rồi bây giờ cả Sài Gòn coi con khóc trên lá chuối lúc bốn giờ sáng.
Ông dừng lại. Ông nhìn Toàn.
– Mày không xóa thì thôi. Tao không coi.
Ông đi vô nhà. Toàn đứng giữa xưởng, nước mắt chảy ròng ròng. Thơm đi lại, ôm vai em. Cô không biết nói gì với nó. Cô không biết nói gì với chính mình.
Thứ Ba, mười hai tháng Năm, trời mưa trận đầu mùa.
Mưa tới lúc ba giờ chiều, không báo trước. Trời đang nắng chang chang, bỗng một đám mây đen kéo tới từ phía Bình Chánh, gió nổi lên, lá trứng cá ở đầu hẻm bay tán loạn, rồi mưa đổ xuống như ai trút nước. Mưa trên mái tôn nghe ầm ầm như trống. Mùi đất khô gặp nước bốc lên, ngai ngái, nồng nồng, cái mùi mà cả Sài Gòn chờ suốt năm tháng nắng.
Thơm đứng ở cửa xưởng nhìn mưa. Rồi cô đi lại cái bồn ngâm gạo, nhìn mẻ gạo cô vừa vo lúc hai giờ, mẻ để ép đêm mai, ngâm một đêm như suốt mấy tháng nắng.
Cô nghĩ một lúc. Trời mưa thì nhiệt độ sẽ xuống. Đêm nay không còn ba mươi hai độ nữa, mà chỉ chừng hai mươi sáu, hai mươi bảy. Gạo ngâm sẽ lên chua chậm hơn. Ngâm một đêm thì chưa đủ chua, sợi sẽ láng, không nhám.
Cô đi lấy cái bảng phấn nhỏ treo ở cột, xóa chữ "ép đêm mai" đi, viết "ép đêm mốt". Đêm mai sẽ thiếu một bồn. Cô gọi cho mấy tiệm chay, xin đêm mai giao bớt một nửa, nói thật lý do: trời mưa, gạo chưa đủ chua. Bà Út Mai cười trong điện thoại: "Ừ, ba con hồi xưa mùa mưa cũng vậy. Cô chờ được."
Cô không hỏi ba. Cô quay lại thì thấy ba đang đứng ở cửa nhà, nhìn cô, nhìn cái bảng phấn. Ông gật đầu một cái thật nhẹ, rồi quay vô.
Ngâm theo trời. Cô đã hiểu.
Tối đó, trời vẫn còn mưa lâm râm. Thơm vô nhà lấy cái áo khoác, đi ngang qua phòng ba. Cửa phòng mở hé. Ông Tám ngồi trên cái giường gỗ, lưng dựa vô tường, mắt nhắm, như đang ngủ gà ngủ gật trước giờ lên ca. Bàn tay trái của ông đặt trên đùi, nằm yên. Bàn tay phải của ông cũng đặt trên đùi.
Bàn tay phải đang run.
Không phải run vì cầm cái gì nặng. Không phải run vì đau. Bàn tay nằm yên trên đùi, không làm gì hết, mà mấy ngón tay vẫn rung lên đều đều, ngón cái cọ vô ngón trỏ, như người ta đang vê một viên thuốc nhỏ.
Thơm đứng ở cửa, nhìn. Cô nhớ lại cái ly trà sóng sánh hôm ba vừa mổ xong. Nhớ lại cây bút run trên tờ biên bản kiểm tra, chữ "Rạng" xiêu vẹo. Nhớ lại bàn tay ba run bên hông hôm cô hỏi về ông Vinh. Lần nào cô cũng tìm được một lý do. Đau. Thuốc. Mệt. Giận.
Lần này cô không tìm được lý do nào.
Cô đi vô phòng, nhẹ chân, không làm ba thức. Trên cái bàn nhỏ cạnh giường, dưới cái hộp đựng kính lão, có một tờ giấy gấp đôi. Cô không định đọc. Nhưng cái logo bệnh viện in xanh trên góc tờ giấy lộ ra ngoài, và cô đọc.
Giấy hẹn khám. Khoa thần kinh. Họ tên: Đỗ Văn Rạng. Năm sinh: 1962. Lý do: theo dõi run tay phải. Ngày hẹn tái khám: thứ Hai, mười tám tháng Năm.
Ngày khám lần đầu ghi ở dòng dưới: hai mươi chín tháng Mười hai năm hai ngàn không trăm hai mươi lăm.
Trước Tết. Trước cả cái đêm rằm tháng Giêng.
— Hết chương 15 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe