Chương 8: Gió bấc đầu mùa
Gió mùa đông bắc đầu tiên về Đông Kiều lúc ba giờ sáng Thứ Bảy, đập cánh cửa sổ buồng trong vào khung gỗ đánh rầm một tiếng. Nghiên tỉnh dậy như vừa bị ai dội một gáo nước lạnh lên mặt.
Cô chạy ra cài cửa. Ngoài sân, lá nhãn khô bay rào rào như mưa. Trên đê, gió rít qua mấy hàng phi lao thành một tiếng hú dài. Cái nóng hanh của tháng Mười tan biến chỉ sau một đêm.
Bốn giờ, bà Ngấn đã đứng ở cửa buồng, khoác cái áo bông cũ màu cỏ úa.
– Hôm nay quét nước một. – Bà nói.
– Hôm nay ạ? Gió thế này?
– Gió thế này mới quét. – Bà Ngấn bảo. – Nắng hanh, gió khô, giấy ăn mực. Ba hôm nữa mưa phùn thì giấy ngậm nước, mực loang.
Hai tuần trước, Hãn đã lái chiếc xe bán tải mượn của công trường sang Bắc Ninh, chở về tám trăm tờ giấy dó từ một nhà làm giấy quen của bố anh. Giấy dó màu ngà, xơ dó còn lộ ra từng sợi khi soi lên đèn, mỏng mà dai, xé không đứt thẳng được. Ông chủ nhà làm giấy là một cụ già bảy mươi tám tuổi, nghe Hãn nói lò nhà Lã làm lại giấy quỳ thì cụ không lấy tiền vận chuyển, chỉ dặn: bảo bà Ngấn giữ sức.
Trong cái chái, bà Ngấn pha nước một. Bà không dùng cân, không dùng cốc đo. Bà dùng một cái bát men xanh và bàn tay. Ba bát keo da trâu đã đông lại thành thạch, hâm cho chảy. Hai bát nước giếng. Rồi muội, bà bốc bằng tay, từng nắm, thả vào, khuấy bằng đôi đũa cả dài. Nghiên đứng bên, cố nhớ. Ba bát. Hai bát. Bao nhiêu nắm? Bà Ngấn bốc tới nắm thứ tư thì dừng, nhìn vào nồi, rồi bốc thêm nửa nắm.
– Sao lại nửa nắm hả u?
– Nhìn. – Bà Ngấn nói. – Mực đen như mắt trâu thì đủ. Đen như mắt người thì thiếu.
Nghiên nhìn. Cô không phân biệt được. Bà Ngấn khuấy thêm mười vòng, rồi chấm ngón tay vào, giơ lên. Một giọt mực đen đặc trượt xuống, chậm như mật.
– Đây là mắt trâu.
Rồi bà đưa cho Nghiên cái chổi quét bản to, lông lợn đen, cán tre. Bà trải một tờ giấy dó lên tấm ván, chấm chổi vào mực, quét một đường từ trái sang phải, dứt khoát, không dừng, không quay lại.
– Một chiều. Không quét ngược. Quét ngược giấy xổ lông.
Nghiên quét tờ đầu tiên. Đường chổi run, mực đậm nhạt không đều. Bà Ngấn nhìn, không nói gì, nhấc tờ giấy lên, vo lại, ném vào cái sọt. Tờ thứ hai. Tờ thứ ba. Tới tờ thứ mười một, bà Ngấn cầm lên, soi ra ánh đèn, gật đầu một cái. Nghiên thấy mình suýt khóc vì một cái gật đầu.
Tám giờ sáng, nắng lên, gió vẫn mạnh. Hai người khiêng từng tờ giấy đã quét ra sân, kẹp lên giàn tre Hãn dựng từ hôm trước bằng những cái kẹp gỗ. Những tờ giấy đen bay phần phật trong gió như cờ. Cả cái sân gạch đỏ bỗng thành một rừng cờ đen.
Tới trưa, Nghiên đã quét được một trăm hai mươi tờ. Tay phải cô mỏi tới mức cầm đũa không vững. Chiều, gió càng lạnh. Cô mặc áo khoác mỏng, đứng ngoài sân trở giấy, vì bà Ngấn bảo phải trở mặt khi mặt trên đã se. Tối, cô gội đầu, tóc chưa khô đã ngủ gục trên bàn.
Nửa đêm, cô sốt.
Sáng Chủ nhật, cô không dậy được lúc bốn giờ. Bà Ngấn vào buồng, đặt tay lên trán cô, rồi đi ra. Năm giờ rưỡi, Hãn vào.
Anh đứng ở cửa buồng, chưa bước qua bậc cửa.
– Cô sốt bao nhiêu độ?
– Không biết. – Nghiên nói, giọng khàn đặc. – Nóng.
Anh đi ra, rồi quay lại với cái nhiệt kế. Ba mươi tám độ rưỡi. Anh cầm nhiệt kế, nhìn con số, rồi nhìn cô.
– Hôm nay tôi xin nghỉ.
– Anh đi làm đi. Sốt thôi mà.
– Tôi xin nghỉ rồi. – Anh nói, rồi đi ra bếp.
Một lúc sau, anh bưng vào bát cháo hành, có thêm mấy lá tía tô thái chỉ, một quả trứng gà đập vào khi cháo còn sôi, rắc tiêu. Hơi nóng bốc lên nghi ngút. Nghiên ngồi dậy, ăn từng thìa. Mồ hôi rịn ra trên trán.
– U tôi bảo phải đánh gió. – Hãn nói. Anh cầm trong tay lọ dầu gió và một đồng xu cũ. Anh đứng đó, ngập ngừng. – Nhưng điều bốn…
Nghiên nhìn anh. Cô bật cười, cười tới ho sù sụ.
– Đánh gió là chữa bệnh. – Cô nói khi hết ho. – Không tính.
– Được.
Cô nằm sấp. Anh vén áo cô lên tới bả vai, động tác cẩn thận như người ta mở một cái hộp có đồ dễ vỡ. Anh xoa dầu gió lên lưng cô, rồi cầm đồng xu cạo dọc hai bên sống lưng, từ trên xuống, đều tay. Da cô nóng ran. Những vệt đỏ hiện lên. Anh cạo không mạnh, không nhẹ, đúng như người làm việc này đã nhiều lần.
– Anh hay đánh gió cho ai à?
– Cho u tôi. Từ hồi bố tôi mất.
Nghiên nhắm mắt. Đồng xu trượt dọc lưng, nhịp đều đều. Ngoài sân, gió bấc vẫn thổi, giàn giấy kêu phần phật.
– Anh kể tôi nghe về chị Đoan đi. – Cô nói, mắt vẫn nhắm. – Điều bảy. Không nói dối những gì không cần.
Đồng xu dừng lại một nhịp. Rồi lại trượt tiếp.
– Gặp năm 2017, ở một đám cưới bạn. Cô ấy dạy tiểu học ở xã bên. Yêu nhau hai năm. Năm 2019 đính hôn. – Hãn nói, giọng bằng bằng như đọc bản thuyết minh. – Hè năm ấy cô ấy hay sang nhà, ngồi với u tôi trong chái. Tôi đi công trường Quảng Ninh, một tháng về một lần, không để ý. Cuối tháng Mười âm, cô ấy mang lễ sang trả. Cô ấy chỉ nói một câu: em không hợp với làng anh. Tôi hỏi gì cũng chỉ một câu ấy.
– Anh có giận không?
– Có. – Anh nói. – Rồi chưa được ba tuần sau, bố tôi mất. Tôi không còn sức để giận ai nữa.
– Hôm ấy anh ở đâu?
Đồng xu dừng hẳn.
– Ở công trường. – Anh nói. Rồi anh không nói gì thêm. Nghiên nghe tiếng anh vặn nắp lọ dầu gió, đặt đồng xu xuống mặt bàn. Anh kéo áo cô xuống, kéo chăn lên.
– Cô ngủ đi. Trưa tôi nấu cháo nữa.
Cô ngủ. Cô ngủ một giấc dài, không mơ. Khi tỉnh dậy, đã gần ba giờ chiều. Cơn sốt đã lui. Cô nghe từ gian xưởng vọng sang một âm thanh mà cô đã chờ nghe suốt bảy năm.
Tiếng búa.
Nghiên khoác áo, ra cửa sổ. Cửa gian xưởng mở toang. Trong đó, bên cái đe giữa, Hãn đứng, mặc áo ba lỗ, quần vải, chân đất. Đối diện anh, bên cái đe thứ hai, là một ông già tóc bạc trắng, lưng còng, mặc áo bộ đội cũ bạc màu. Trên mỗi mặt đe là một tập giấy cũ rách mép, bọc trong tấm da trâu mới lấy ra ngâm cho mềm.
Hai người đập. Không có vàng, chỉ có giấy. Hãn giơ búa lên ngang vai, rồi hạ xuống, không dùng sức tay mà dùng sức cả người, búa rơi xuống mặt tập giấy đánh "bộp". Ông già bên kia đập lệch nửa nhịp. Bộp. Bộp. Bộp. Bộp. Hai tiếng búa đan vào nhau như hai người đi bộ cùng nhau, bước chân lệch nhau mà vẫn đều.
Nghiên đứng xem, quên cả lạnh.
Hãn đập được chừng mười phút thì dừng lại, lau mồ hôi bằng mu bàn tay. Ông già bên kia cũng dừng, quát to như quát người điếc, vì chính ông điếc:
– Tay cháu vẫn còn! Tay cháu vẫn còn nhá! Tao tưởng mười năm làm cầu cháu quên mẹ nó rồi!
– Cháu chưa quên ông ạ.
– Hả?
– Cháu chưa quên! – Hãn nói to.
– Ừ! Thế là được! – Ông già cười, lộ hàm răng móm. Rồi ông nhìn ra cửa sổ, thấy Nghiên. – Cô dâu đấy à? Cô dâu ra đây!
Nghiên ra. Hãn giới thiệu: ông Tề, thợ đập của lò, đứng đe với bố anh bốn mươi năm. Ông Tề nghe tin lò làm lại giấy, đạp xe từ xóm trên xuống xem. Ông nắm tay Nghiên, lắc mạnh, nói to:
– Cô dâu tay đen thế này là học được rồi! Ngày xưa cụ Gái cũng tay đen như thế này!
– Cụ Gái là ai ạ?
– Hả?
– Cụ Gái là bà nội anh. – Hãn nói khẽ bên cạnh. – Người dạy u tôi.
Ông Tề vẫn nắm tay Nghiên, mắt nhìn ra cái giàn giấy đen đang bay phần phật ngoài sân.
– Mười năm rồi tao mới lại thấy cái giàn này. – Ông nói, lần này không to nữa. – Mười năm rồi.
Nghiên nhìn sang Hãn. Anh đang nhìn cái giàn giấy, mồ hôi chảy dọc thái dương, ngực áo ba lỗ thẫm nước, bắp tay còn hằn những sợi gân sau mười phút búa. Cô quay đi chỗ khác, nhìn chăm chăm vào cây nhãn như cây nhãn có gì lạ lắm.
Ba ngày sau, Nghiên khỏi hẳn. Cô quét nốt sáu trăm tám mươi tờ còn lại, phơi khô. Giàn giấy đen chiếm kín cả sân, Hãn phải dựng thêm hai giàn nữa sát tường rào. Bà Ngấn đi dọc các giàn, rút ngẫu nhiên từng tờ, soi lên nắng, búng ngón tay vào mặt giấy nghe tiếng. Tờ nào kêu đanh thì bà gật. Tờ nào kêu bục thì bà đặt riêng ra. Xong một lượt, bà bảo: được tám phần. Nghiên không biết tám phần là khen hay chê. Hãn bảo hồi bố anh còn, u anh chấm giấy của chính mình cũng chỉ được chín phần. Người đi qua ngõ nhìn vào, chỉ trỏ. Lò nhà Lã làm lại rồi. Tin ấy chạy khắp xóm chỉ trong một buổi sáng.
Chiều Thứ Năm, mười ba tháng Mười Một dương, Nghiên từ đình Thượng Lão về sớm. Ân ốm, cô làm một mình không được việc gì nhiều.
Từ đầu ngõ, cô đã thấy chiếc xe máy của chú Kế dựng ở cổng lò. Trên con đường bê tông, vết lốp ô tô còn mới, in hằn trên lớp bùn đất bị gió thổi khô. Cô dắt xe vào sân.
Sân vắng. Giàn giấy vẫn bay. Chú Kế đứng ở hiên, đang nghe điện thoại, thấy cô thì cúp máy, gật đầu chào, rồi đi ra cổng, nổ máy chạy mất, không nói câu nào.
Nghiên vào nhà. Gian giữa có hai cái chén uống nước chưa dọn. Trên mặt bàn gỗ, cạnh đĩa lạc rang, là một tấm danh thiếp trắng, chữ in nhũ vàng. Cô không cần cầm lên cũng biết của ai.
Bà Ngấn ngồi ở ghế, quay lưng ra cửa. Trước mặt bà là một tờ giấy trắng khổ to, in chữ đánh máy kín mặt. Trong tay bà là một cây bút bi, nắp đã mở.
Bà đang nhìn tờ giấy rất chăm chú, như nhìn một tờ giấy dó xem đã ăn mực chưa.
— Hết chương 8 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe