Chương 16: Bốn trăm tờ phơi nắng
– Mày học ai cái chuyện gió bấc?
Bà Ngấn đặt đôi đũa cả xuống thành nồi keo đánh cạch một tiếng. Bà quay sang Nghiên, mắt sắc lại, cái sắc mà Nghiên chỉ thấy một lần, đêm rằm tháng Tám, lúc bà thổi tắt ngọn đèn.
– Con… con nghe ông Tề kể. Ngày xưa đêm gió bấc cụ Gái đuổi đàn ông vào nhà.
– Ông Tề là đàn ông. – Bà Ngấn nói. – Đàn ông biết gì mà kể.
– Thế đêm gió bấc thì cụ làm gì hả u?
Bà Ngấn nhìn cô. Rồi bà nhìn xuống nồi keo. Đôi mắt sắc ấy mờ dần đi, như mặt nước ao bị ai thả một hòn sỏi.
– Làm gì… – Bà lẩm bẩm. – Làm gì nhỉ.
Rồi bà cầm đũa lên, khuấy tiếp.
– Nước tư phơi ba nắng. – Bà nói, giọng đều đều trở lại. – Tao bảo mày rồi. Ba nắng rồi cho vào chum.
Sáng Thứ Hai, mười tháng Mười Một âm, hai mươi chín tháng Mười Hai dương. Sau mấy ngày âm u, trời hửng lên nắng hanh, khô và trong như thủy tinh. Bà Ngấn dậy từ ba giờ, bảo hôm nay quét nước tư.
Tám trăm tờ giấy đã qua ba nước, xếp trong sáu cái chum sành dưới mái hiên sau, mỗi chum đậy một cái vung gỗ. Nước tư khác nước ba. Bà Ngấn pha đặc hơn, nhiều keo hơn, thêm một ít muội lọc thật kỹ qua hai lần lụa. Lúc khuấy, bà khuấy theo một chiều, rất lâu, đếm thầm, môi mấp máy.
Nghiên ngồi cạnh, cuốn sổ kẻ ô trên đầu gối. Cô ghi tỉ lệ. Rồi cô nhìn dòng chữ gạch chân hai tuần trước: "Nước tư: phơi ba nắng, rồi cho vào chum." Rồi cô nhìn bàn tay bà Ngấn đang khuấy. Bàn tay không run. Nó chưa run lần nào từ sáng tới giờ.
Tối qua, cô đã nói với Hãn. Ở hiên sau, sau bữa cơm, khi bà Ngấn đã ngủ. Cô kể lại câu ông Tề, câu "đêm gió bấc" ấy, kể bàn tay u run lúc nói "ba nắng". Cô hỏi anh: anh nghĩ sao.
Hãn nghĩ rất lâu.
– Làm cầu, – anh nói, – không bao giờ tin một con số chỉ vì người nói nó chắc chắn. Cũng không bỏ một con số chỉ vì người nói nó đang ốm. Người ta thử.
– Thử thế nào?
– Mỗi lô bê tông, người ta đúc mẫu. Ép mẫu trước. Mẫu đạt thì đổ cả khối. – Anh nói. – Em có tám trăm tờ. Em quét nước tư cho một nửa, phơi theo lời u. Nửa kia để nguyên trong chum. Nếu nửa đầu đạt thì làm nốt nửa kia. Nếu không đạt…
– Thì còn nửa kia.
– Ừ. Còn nửa kia.
Nghiên nhìn anh. Cô thấy lạ. Người đàn ông này nói về giấy quỳ bằng ngôn ngữ của bê tông, và nó đúng.
– Thế anh tin ai? Tin u hay tin ông Tề?
– Anh tin u. – Hãn nói. – Anh cũng tin ông Tề. Nên anh mới bảo em giữ lại một nửa.
Thế là sáng nay, khi bà Ngấn bảo quét nước tư, Nghiên mang ra bốn trăm tờ. Ba chum. Ba chum còn lại cô để nguyên dưới hiên, đậy vung. Bà Ngấn không hỏi vì sao chỉ có bốn trăm. Bà đếm tờ bằng mắt, rồi lại quên mình đã đếm.
Cả ngày, Nghiên quét. Một chiều, không quay lại. Mỗi tờ quét xong, cô kẹp lên giàn tre ngoài sân, chỗ nắng gắt nhất. Gió hanh thổi, những tờ giấy đen bóng như sơn mài bay phần phật. Tới chiều, giàn kín hết. Bốn trăm tờ.
Từ hôm mẹ cô về Nam Định, Hãn lại ra ngủ gian xưởng. Nhưng trên cái chõng tre giờ có hai lớp chăn, một cái chăn bông mới mẹ cô bắt Nghiên mang ra trước khi lên xe, dặn đi dặn lại: chồng mày rét thì mày cũng chẳng ấm được đâu. Sáng nào Nghiên đi ngang cửa gian xưởng cũng thấy hai cái chăn gấp vuông góc, cái này chồng lên cái kia, góc nào cũng thẳng như kẻ thước.
Có những thứ khác cũng đổi, nhỏ thôi. Bữa sáng, anh không còn để phần cô trong chạn rồi đi trước. Anh chờ cô từ chái ra, rửa tay xong, hai người ngồi ăn cùng nhau mười phút, bà Ngấn ngồi giữa. Anh hỏi hôm nay quét được bao nhiêu tờ. Cô hỏi hôm nay đổ đốt thứ mấy. Những câu hỏi nhỏ, như hai người thợ hỏi nhau về việc. Nhưng sáng hôm sau, lúc anh đứng dậy đi làm, anh đưa tay lau vệt muội trên má cô bằng ngón cái, tự nhiên như lau một vết bẩn trên mặt bản vẽ. Rồi anh đi. Bà Ngấn ngồi bên cạnh, nhìn theo, cười móm mém, không nói gì.
Nghiên ngồi im với cái bát xôi, má còn ấm chỗ ngón tay vừa chạm.
Ngày thứ hai, nắng tiếp. Ngày thứ ba, sáng ba mươi mốt tháng Mười Hai, vẫn nắng.
Sáng hôm ấy, Nghiên dắt bà Ngấn đi chợ.
Thứ Bảy là giỗ ông Cừ. Mười hai mâm. Chú Kế bảo nhà chú lo sáu mâm, nhà này lo sáu. Hãn đi làm tới chiều Thứ Sáu mới nghỉ. Nên việc đi chợ mua đồ khô, hương, nến, vàng mã, giấy bản gói xôi là việc của Nghiên. Bà Ngấn nhất định đòi đi cùng, bảo giỗ ông nhà tôi thì tôi phải tự chọn.
Chợ Đông Kiều sáng ngày cuối năm dương lịch đông hơn mọi ngày. Hàng rau, hàng cá, hàng thịt chen nhau dưới những cái ô bạt xanh đỏ. Tiếng rao, tiếng cân đĩa, tiếng xe máy bấm còi. Nghiên một tay xách làn, một tay nắm tay bà Ngấn. Hai người mua hương ở hàng đầu chợ, mua nến, mua mộc nhĩ, mua miến. Rồi Nghiên dừng lại ở hàng thịt để chọn miếng thịt mông cho món giò. Cô buông tay bà ra một giây, để cầm miếng thịt lên xem.
Khi cô quay lại, bà Ngấn không còn ở đó.
Một giây đầu, Nghiên nghĩ bà chỉ đứng sau lưng. Giây thứ hai, cô nhìn quanh. Giây thứ ba, cô bỏ miếng thịt xuống, chạy.
Cô chạy dọc dãy hàng thịt, dãy hàng cá, gọi u ơi, u ơi, rồi nhận ra gọi "u" giữa chợ thì không ai biết cô gọi ai. Cô gọi bà Ngấn ơi. Cô hỏi bà hàng cá có thấy một bà cụ áo bông màu cỏ úa, tóc búi củ hành không. Bà hàng cá chỉ về phía cuối chợ. Cô chạy về phía cuối chợ. Không có. Cô chạy ra cổng sau, nơi con đường dẫn lên đê. Gió hanh thổi bụi mù. Trên đê, xe tải chạy ầm ầm.
Cô đứng ở cổng chợ, tay run tới mức suýt đánh rơi điện thoại. Cô bấm số Hãn. Rồi cô dừng lại, không bấm nút gọi. Anh đang ở trên cầu. Anh sẽ bỏ dở mọi thứ để chạy về. Anh đã một lần không nghe máy, và anh mang nó sáu năm.
Cô cất điện thoại. Cô quay vào chợ, đi chậm lại, nhìn từng ngóc ngách.
Mười lăm phút. Cô tìm thấy bà ở một góc khuất sau dãy hàng khô, nơi có một sạp nhỏ bán giấy bản, giấy dó, giấy điều để viết câu đối Tết. Bà Ngấn ngồi trên cái ghế nhựa thấp của bà chủ sạp, tay cầm một tờ giấy dó, xoa xoa giữa hai ngón tay. Bà chủ sạp, một bà cụ khác chừng bảy mươi tuổi, đang ngồi nghe bà nói.
– …năm bảy chín. Tôi về làm dâu tháng Chạp. Mẹ chồng tôi dắt tôi ra đúng cái chợ này, mua giấy. Ngày ấy chợ còn họp dưới gốc đa. Bà bảo: con sờ vào đây, giấy dó tốt là sờ thấy xơ, mỏng mà không thủng. Tôi sờ…
Nghiên đứng lại cách hai bước. Chân cô bủn rủn. Cô vịn vào cái cột sắt của sạp bên cạnh.
Bà chủ sạp ngẩng lên, nhìn cô, rồi nhìn bà Ngấn, rồi hiểu ra. Bà khẽ gật đầu với Nghiên, ý bảo: cứ để bà ấy nói hết đã.
– …tôi sờ. Tôi không thấy gì cả. Mẹ chồng tôi cười. Bà bảo: không thấy thì sờ thêm mười năm nữa. – Bà Ngấn cười. – Mười năm sau tôi mới thấy thật.
Rồi bà quay sang, thấy Nghiên. Bà nhìn cô một lúc.
– Mày là con dâu tao à?
Nghiên ngồi xổm xuống trước mặt bà, ngang tầm mắt bà, như người ta ngồi xuống với trẻ con.
– Dạ. Con là dâu u.
– Mày đi đâu mà để tao một mình?
– Con xin lỗi u. Con mải chọn thịt.
Bà Ngấn đưa cho cô tờ giấy dó đang cầm trong tay.
– Sờ đi.
Nghiên cầm tờ giấy. Cô sờ. Xơ dó gồ lên dưới đầu ngón tay, mảnh như tơ, không đều, chỗ dày chỗ mỏng.
– Thấy gì không?
– Con thấy xơ, u ạ.
– Ừ. – Bà Ngấn gật đầu, mãn nguyện. – Mày nhanh hơn tao. Tao mất mười năm.
Nghiên mua tờ giấy ấy. Ba nghìn đồng. Cô gấp nó lại, cất vào túi áo trong. Rồi cô nắm tay bà Ngấn, lần này nắm chặt, không buông nữa, dắt bà đi về.
Tối ấy, cô kể với Hãn. Cô kể hết, cả chuyện cô đã bấm số anh rồi không gọi. Anh nghe, không nói gì. Rồi anh đứng dậy, đi ra vườn sau. Mười phút sau anh quay lại, tay cầm một đoạn tre già dài chừng một gang tay, và con dao nhíp.
Anh ngồi dưới đèn, vót. Vót rất chậm. Nghiên ngồi nhìn. Một lúc sau, cô nhận ra anh đang làm gì. Một cái kẹp tre, hai thanh mỏng nối nhau ở đầu, giống hệt cái kẹp bố cô dùng để gắp lá vàng.
– Kẹp của em bằng nhựa. – Anh nói, không ngẩng lên. – Nhựa tích điện. Lá vàng dính vào. Bố anh bảo thế.
– Anh làm cho em à?
– Ừ. Cho lá vàng đầu tiên.
Anh vót tới khuya. Khi xong, anh đặt nó vào lòng bàn tay cô. Cái kẹp nhẹ như không, mặt tre nhẵn, hai đầu mỏng như cánh ve.
Sáng mùng một tháng Một dương lịch, trời trở mây. Bốn trăm tờ giấy đã phơi đủ ba nắng. Nghiên gỡ từng tờ khỏi giàn, xếp vào ba cái chum. Mặt giấy đen bóng, cứng, búng vào kêu đanh. Cô không biết tiếng đanh ấy là tốt hay xấu. Ba chum còn lại, bốn trăm tờ mới qua nước ba, vẫn nằm im dưới hiên.
Tối hôm ấy, khi cô đang ngồi nhặt đỗ xanh với Viên cho ngày giỗ, điện thoại reo. Mẹ cô.
– Mẹ à?
Đầu dây bên kia im một lúc. Rồi cô nghe tiếng mẹ khóc. Không phải cái khóc ồn ào của ngày đưa dâu. Mà là tiếng khóc nén, đứt quãng, như người đã khóc từ lâu trước khi bấm số.
– Bố mày kể hết với mẹ rồi. – Mẹ cô nói. – Cái tờ giấy. Một năm. Mẹ hỏi mãi, bố mày mới nói.
Nghiên đặt rổ đỗ xuống. Viên nhìn cô, rồi lặng lẽ đứng dậy, đi ra ngoài.
– Mẹ…
– Sao con dại thế hả con? – Mẹ cô nói, rồi nấc lên. – Sao con dại thế?
— Hết chương 16 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe