Chương 20: Xưởng thuê ở Long Biên
– Nghiên, tôi hỏi một câu, Nghiên không trả lời cũng được.
Triều đứng ở chân cái giàn giáo dựng quanh đôi câu đối, tay cầm cuốn sổ bìa da nhưng không mở. Nghiên đang ngồi trên tấm ván cao ngang ngực anh, cầm cái bay xương trâu trám nốt một vết nứt chân chim ở đầu chữ "Phúc". Cô không quay xuống.
– Anh hỏi đi.
– Ở làng bên ấy người ta đồn Nghiên cưới… – Anh dừng, chọn chữ. – Cưới có thời hạn. Tôi nghe từ ông thủ từ. Ông ấy nghe từ một bà bán hàng nước ở chợ Đông Kiều.
Nghiên miết cái bay một đường, gạt chỗ sơn thừa sang mép.
– Thật đấy anh ạ.
Triều im một lúc lâu. Ân đang đứng pha son ở góc đình, khuấy cái bát chậm hẳn lại.
– Tôi không hỏi chuyện riêng. – Triều nói. – Tôi chỉ nghĩ… nếu giờ lò bên ấy không làm được vàng nữa, thì Nghiên đừng để mình bị kẹt. Tôi nói chuyện với cụ Hội được. Bức hoành phi thì cụ nhất định đòi vàng quỳ. Nhưng câu đối với kiệu, nếu dùng vàng công nghiệp loại tốt, tôi viết hồ sơ giải thích, ban quản lý nghe tôi. Không ai trách Nghiên.
Nghiên đặt cái bay xuống. Cô quay lại, nhìn xuống Triều. Anh đứng đó, áo khoác dạ màu ghi, khăn quàng len, gương mặt nghiêm túc và tử tế. Anh nói thật. Cô biết anh nói thật.
– Anh Triều. – Cô nói. – Đôi câu đối này với cái hoành phi kia làm cùng một năm, cùng một tay thợ thếp. Thếp hai loại vàng lên một gian đình thì mười năm nữa, đứng ở cửa nhìn vào, người ta thấy hai màu. Người ta sẽ hỏi.
– Mười năm nữa ai nhìn kỹ thế.
– Cụ Hội nhìn. – Nghiên nói. – Cụ giữ mười lá vàng ba mươi năm để nhìn.
Triều cười, cái cười của người biết mình thua. Anh gật đầu, cất cuốn sổ vào cặp.
– Thế thì Nghiên cần gì, cứ bảo tôi.
Anh đi. Ân đợi anh ra khỏi cổng đình mới nói, không ngẩng lên khỏi bát son:
– Chị nói giống anh rể thế.
– Giống gì?
– Nói cái đình như nói cái cầu. Mười năm nữa thế này, mười năm nữa thế kia.
Nghiên quay lại với chữ "Phúc". Cô không trả lời.
Một tuần ở Long Biên, cô làm việc như người chạy trốn. Bảy giờ sáng đã có mặt ở đình. Tối về xưởng thuê, cô lôi pho tượng còn dở của một khách quen ra làm tiếp, làm tới mười một giờ. Cái nhà cấp bốn mái tôn lạnh như hầm, cô cắm cái lò sưởi nhỏ dưới gầm bàn, ngồi co chân. Ân ngủ lại xưởng hai đêm đầu, bảo là cho tiện, sáng đỡ phải chạy. Đêm thứ ba nó về phòng trọ. Trước khi đi, nó đứng ở cửa.
– Chị ơi. – Nó nói. – Em làm chứng cái tờ giấy ấy. Em nói thật, em đã nghĩ chị sẽ thắng.
– Thắng ai?
– Không biết. Thắng cái làng ấy. – Ân gãi đầu. – Giờ em không biết ai thắng ai nữa.
Nó đi rồi, Nghiên mở hộp đồ nghề. Tờ thỏa thuận vẫn nằm trong lòng nắp, gấp ba, đúng cái nếp lệch của người khác. Cô không gấp lại theo nếp tư của mình. Cô cũng không biết vì sao.
Bên cạnh nó, trong tờ giấy bản gấp vuông, là lá vàng rách mép cô nhặt từ đống giấy vỡ. Cô mở ra nhìn. Nó nhăn ở một góc, thủng hai lỗ nhỏ bằng đầu kim, mép trên rách một vệt dài chỗ cái kẹp nhựa hút vào. Nhưng nó có màu. Cái màu mật ong già cô đã thấy trong hòm đình.
Cô gấp nó lại. Cụ Hội đã nói: trước Tết, tôi muốn xem một lá vàng. Một lá thôi.
Ở Đông Kiều, mỗi chiều Hãn đi làm về, câu đầu tiên bà Ngấn hỏi anh không phải câu "con về rồi đấy à".
– Con bé nín thở đâu?
Lần đầu anh không hiểu. Viên hiểu. Viên bảo: bác hỏi chị Nghiên đấy anh. Bác không nhớ tên, bác chỉ nhớ chị hay nín thở lúc quét giấy.
Hãn đứng ở bậc thềm, cởi ủng, xếp ngay ngắn sát chân tường. Anh mất một lúc lâu mới xếp xong đôi ủng.
– Con bé về Hà Nội làm việc, u ạ. – Anh nói.
– Bao giờ về?
– Con không biết.
– Mày không biết thì ai biết. – Bà Ngấn nói, rồi quay vào bếp, mở vung nồi cơm Viên đã nấu, nhìn vào, đậy lại.
Điều bảy. Anh đã không nói dối.
Tối nào cũng thế, khoảng chạng vạng, bà Ngấn đi ra đi vào. Bà không ra cổng nhìn đường đê như hồi trước giỗ. Bà đi vào buồng trong. Bà ngồi xuống cái ghế trước bàn làm việc trống, đặt tay lên vệt sơn ta khô, ngồi đó. Có hôm nửa tiếng. Có hôm cả tiếng. Viên sang, bảo bác ra ăn cơm, bà ra. Hôm Viên về sớm, Hãn ra gọi, bà nhìn anh như nhìn người lạ, rồi lại nhìn cái bàn.
Thứ Năm, anh xin nghỉ nửa ngày, đưa u đi tái khám.
Bác sĩ là một người đàn ông ngoài năm mươi, nói chậm, hay cười. Ông hỏi bà Ngấn hôm nay thứ mấy, tháng mấy, đang ở đâu. Ông đọc ba chữ, bảo bà nhớ, rồi năm phút sau hỏi lại. Bà Ngấn nhớ một chữ. Ông đưa bà một tờ giấy trắng, bảo bà vẽ cái đồng hồ. Bà vẽ một vòng tròn, rồi ngồi nhìn vòng tròn rất lâu, rồi vẽ vào giữa vòng tròn một cái bát úp trên ba hòn gạch.
Bác sĩ nhìn hình vẽ. Ông không cười.
– Bà cụ vẽ gì đây anh?
– Cái bát hun muội. – Hãn nói. – Nghề nhà tôi.
Bác sĩ gật đầu. Ông bảo bà Ngấn ra ngồi ngoài hành lang với cô y tá một lúc. Rồi ông nói với Hãn những điều Hãn đã nghe, chỉ là nói rõ hơn. Bệnh đang đi tiếp, chậm hay nhanh không ai hứa được. Những việc tay quen thì giữ cho bà làm. Giờ giấc ngày nào cũng như ngày nào. Người quen ở cạnh. Đừng đổi nhiều thứ một lúc.
– Mấy tháng nay bà cụ có ai ở cạnh thường xuyên không? – Ông hỏi. – Lần trước anh kể có cô con dâu làm cùng bà cụ.
– Có. – Hãn nói. – Giờ không còn.
Bác sĩ nhìn anh qua cặp kính, không hỏi thêm. Ông chỉ ghi gì đó vào sổ khám.
– Bà cụ có hỏi người ấy không?
– Ngày nào cũng hỏi. Không nhớ tên. Nhớ là người ấy hay nín thở.
– Ừ. – Bác sĩ nói. – Có những thứ người bệnh nhớ bằng cách khác. Không phải tên. Anh đừng coi thường cái cách ấy.
Trên đường về, bà Ngấn ngồi sau xe, hai tay ôm eo con trai. Qua chỗ cây cầu mới, bà hỏi cái cầu này của ai. Anh bảo của con. Bà bảo giỏi, rồi năm phút sau lại hỏi. Anh lại bảo của con. Lần nào bà cũng khen giỏi.
Tối ấy, sau khi u ngủ, Hãn ra hiên sau. Sáu cái chum vẫn kê dưới mái hiên, ba cái đã trống, rửa sạch, úp miệng xuống đất. Ba cái kia vẫn đậy vung gỗ. Anh nhấc vung một cái, soi đèn pin vào. Những tờ giấy đã qua nước ba nằm xếp lớp, đen, im lìm, như còn đang ngủ. Anh đậy lại.
Mấy hôm nay chú Kế hay sang lúc anh đi làm. Viên bảo chú sang trông bác, ngồi uống nước, có hôm ra hiên sau đứng hút thuốc rất lâu. Hãn nghe, không nói gì. Chú là em ruột bố anh. Chú có quyền vào cái nhà này.
Anh ngồi xuống bậc đá cạnh chum, đúng chỗ đêm trước giỗ u ngồi hát. Anh thử ngân lại cái điệu ấy, khe khẽ. Ư ử. Lên. Xuống. Ba câu đầu anh nhớ được lời, vì Nghiên đã đọc cho anh nghe hôm từ Bắc Ninh về. Tới câu thứ tư, giọng anh tự trôi sang ư ử, như một cái xe đúc trượt ra khỏi ray.
Anh ngồi đó tới khi đèn nhà hàng xóm tắt hết.
Thứ Bảy, sáu tháng Chạp, Nghiên mặc áo dài nâu, cái áo dài cô chỉ mặc đi gặp chủ đầu tư, rồi chạy xe sang nhà cụ Hội.
Nhà cụ ở cuối làng Thượng Lão, một nếp nhà gỗ năm gian, sân lát gạch, có bể nước mưa và một giàn trầu không. Cụ đang ngồi ở hiên, mặc áo bông, đọc một cuốn sách chữ Hán bằng kính lúp. Thấy Nghiên, cụ gấp sách lại.
– Cô thợ. Chưa tới Tết.
– Dạ. Còn hơn ba tuần nữa ạ. – Nghiên nói. – Nhưng cháu muốn mang tới trước.
Cụ bảo cô ngồi. Cụ rót nước. Nước chè mạn, đặc, chát. Nghiên không uống. Cô mở túi, lấy ra tờ giấy bản gấp vuông, đặt lên cái khay gỗ trước mặt cụ.
Cụ Hội cầm lấy cái kẹp tre trong khay trầu, mở giấy ra. Cụ nhìn lá vàng một lúc rất lâu. Rồi cụ gắp nó lên, giơ ra phía nắng chiếu qua giàn trầu.
Nắng xuyên qua lá vàng thành màu xanh lục. Và xuyên qua hai lỗ thủng thành hai chấm trắng nhỏ.
– Thủng. – Cụ nói.
– Dạ. Thủng hai lỗ, rách một mép. – Nghiên nói. – Lá này hỏng ạ. Mẻ giấy của cháu hỏng. Cháu làm sai một bước. Ba trăm chín mươi tờ giấy gãy ở giờ đập thứ hai. Lá này là lá còn lại khá nhất. Cháu không có lá nào tốt hơn để mang cho cụ.
Cụ Hội đặt lá vàng xuống tờ giấy bản. Cụ không nhìn cô. Cụ nhìn lá vàng.
– Tôi nghe làng bên ấy đồn rồi. – Cụ nói. – Cô cưới chồng có hạn.
Nghiên ngồi thẳng lưng.
– Dạ. Đúng ạ.
– Tôi tám mươi tuổi. Tôi nghe đồn cả đời rồi. – Cụ Hội nói, giọng bằng bằng. – Tôi không hỏi chuyện nhà cô. Cưới thật hay cưới giả, cô với nhà ấy tự biết, tổ tiên nhà ấy tự biết. Tôi hỏi vàng.
Cụ gắp lá vàng lên lần nữa, lần này không soi ra nắng mà đặt nó lên lòng bàn tay mình, cạnh mép áo bông nâu. Cụ nhìn màu vàng trên da tay già.
– Cô biết vì sao tôi bảo vàng máy là lạnh không?
– Dạ, vì nó cán trục, mỏng đều quá ạ.
– Đấy là cái lý. – Cụ Hội nói. – Còn cái thật là thế này. Vàng máy đặt lên tay tôi thì nó nằm trên tay tôi. Vàng quỳ đặt lên tay tôi thì nó như đang nằm trong tay tôi. Tôi không giải thích được hơn. Ông Cừ cũng không giải thích được. Lá này của cô thủng hai lỗ, rách một mép. Mà nó nằm trong tay tôi.
Nghiên không nói được gì. Cổ cô nghẹn lại.
– Tôi bảo trước Tết cho tôi xem một lá vàng. – Cụ nói tiếp. – Tôi không bảo một lá vàng không thủng. Lá hỏng mà vẫn ấm thì cô có lò thật. Lò thật thì làm lại được.
– Cụ cho cháu thêm thời gian ạ?
– Mùng mười tháng Hai. – Cụ Hội nói. – Hội đình. Trước đó tám ngày tôi phải thấy vàng trên hoành phi. Không thấy thì cô biết rồi đấy.
– Dạ. Cháu biết.
Cụ gấp tờ giấy bản lại, trả cho cô. Rồi cụ nói thêm một câu, không nhìn cô, nhìn ra giàn trầu:
– Lá này cô giữ lấy. Lá vàng hỏng đầu tiên của mình, người thợ phải giữ. Ông Cừ giữ lá hỏng đầu tiên của ông ấy trong ví bốn mươi năm. Ông ấy cho tôi xem một lần. Năm chín mươi tư, lúc tôi trả tiền lẻ.
Nghiên ra về lúc bốn giờ chiều. Cô đi chậm trên con đường làng qua cánh đồng đã cày ải, những thửa ruộng nâu sẫm nằm chờ mạ xuân. Lá vàng trong túi áo, sát ngực. Cô không gọi cho ai. Cô muốn gọi một người. Cô không gọi.
Tối, cô về xưởng, bật lò sưởi, làm việc. Mười giờ, Ân nhắn: chị ăn gì chưa. Cô nhắn: rồi. Cô chưa ăn. Cô bóc một gói mì, đổ nước sôi, quên luôn trên bàn tới khi mì nở trương.
Mười một giờ đêm, có tiếng gõ cửa.
Không phải gõ. Là đập, ba tiếng, mạnh, như người đã gõ rồi mà không ai nghe. Nghiên đứng dậy. Cô nhớ câu Ân nói hôm nào: ở đây không ai nghe tiếng gõ cửa, phải gọi to.
– Nghiên.
Giọng ấy. Cô mở cửa.
Hãn đứng ngoài ngõ tối. Anh vẫn mặc áo phản quang cam, ủng cao su lấm bê tông tới gối, mũ bảo hộ cầm tay. Tóc anh bết mồ hôi, hơi thở thành khói trắng trong cái lạnh. Phía sau anh, chiếc xe máy còn nổ máy, đèn pha rọi vào bức tường vôi vàng của nhà bên.
– Anh đi ca đêm à?
– Tan lúc mười giờ. – Anh nói. – Anh đi thẳng sang đây.
Anh không bước vào. Anh đứng ở bậc cửa, như đêm cưới anh đứng ở cửa buồng trong, không bước qua. Nghiên đứng bên trong. Ánh đèn huỳnh quang trắng bệch rọi lên mặt anh, rõ cả vết sẹo nhỏ ở cằm.
– U hỏi em. – Anh nói. – Ngày nào cũng hỏi. Không nhớ tên. Hỏi con bé nín thở đâu.
Nghiên bám tay vào khung cửa.
– Anh sang để nói thế à?
– Không. – Hãn nói. – Anh sang để nói cái này.
Anh lấy trong túi áo phản quang ra một tờ giấy gấp đôi, giấy kẻ ô, xé từ cuốn sổ công trường. Anh không đưa cho cô. Anh đọc, như đọc một biên bản nghiệm thu.
– Ba chum dưới hiên. Vung còn nguyên. Giấy qua nước ba, chưa quét nước tư, chưa phơi nắng, chưa phơi gì. Anh mở một chum soi đèn, không ẩm, không mốc. – Anh gấp tờ giấy lại. – Còn bốn trăm tờ trong chum. Chưa phơi.
Anh ngẩng lên nhìn cô.
– Em còn một nửa.
— Hết chương 20 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe