Chương 2: Ông kỹ sư nói chuyện bằng con số
Lá vàng bay khỏi mũi bút đúng lúc cửa xưởng mở, chao một vòng trong không khí như con bướm say, rồi đậu lên lông mày bên trái của người vừa bước vào.
Nghiên nhắm mắt lại một giây. Một lá vàng máy loại tốt giá gần năm mươi nghìn. Cô đã nín thở suốt nửa phút để nhấc nó lên khỏi tập giấy lót, đưa nó về phía vầng hào quang của pho tượng gỗ đang nằm trên bàn. Còn đúng một gang tay nữa.
– Đứng yên. – Cô nói. – Đừng thở.
Hãn đứng yên. Anh không thở thật. Nghiên cầm cây bút lông, rón rén bước lại, nghiêng đầu nhìn lá vàng dính trên lông mày anh, mỏng tới mức trông như một vệt nắng. Cô khẽ chạm đầu bút vào mép lá. Lá vàng vỡ ra thành ba mảnh, rơi lả tả xuống nền xi măng.
– Thôi. – Cô nói. – Anh thở đi.
Anh thở ra một hơi dài, rồi đưa tay quệt lông mày. Đầu ngón tay anh lấm tấm vàng.
– Xin lỗi. Tôi gõ cửa rồi.
– Ở đây không ai nghe tiếng gõ cửa. – Ân nói từ góc xưởng, nơi nó đang ngồi chà giấy ráp cái tay kiệu. – Anh phải gọi to. Chị em mà đang thếp thì có cháy nhà cũng không nghe.
Xưởng của Nghiên là một căn nhà cấp bốn thuê trong ngõ ở Long Biên, mái tôn, tường quét vôi vàng. Một bên kê ba cái bàn gỗ dài, bàn nào cũng phủ giấy báo. Bên kia là kệ sắt chất đầy hộp sơn ta, lọ son, bát mài, mấy cái tượng gỗ mất mũi, một bức cuốn thư nứt đôi. Quạt trần không bật. Thếp vàng thì không bao giờ bật quạt.
Thứ Hai đầu tháng Tám âm, trời Hà Nội vẫn nóng. Hãn đứng giữa xưởng, áo sơ mi xanh nhạt, quần vải, không còn đôi ủng lấm bê tông. Trông anh giống một người đi phỏng vấn xin việc hơn là một người chạy chân đất lên dốc đê hôm Thứ Bảy.
Hôm ấy, trên đê, anh chỉ nói tới câu "cô sẽ nghĩ tôi điên" rồi nhìn Ân, rồi nhìn đồng hồ, rồi xin số điện thoại của Nghiên. Anh bảo chuyện này nói đứng trên đê thì em cô ngã xe mất. Thứ Hai tôi được nghỉ bù, tôi xuống tận nơi.
Nghiên kéo cho anh cái ghế nhựa, rửa tay, rót nước. Hãn không ngồi ngay. Anh mở cái cặp da đen, lấy ra một tờ giấy A4 gấp tư, trải lên bàn. Trên giấy là mấy dòng chữ đánh số, viết tay, nét thẳng như kẻ thước.
– Tôi quen nói bằng con số. – Anh nói. – Cô chịu khó.
– Anh cứ nói.
Anh chỉ vào dòng thứ nhất.
– Một. U tôi sáu mươi sáu tuổi. Tháng Ba năm nay bác sĩ thần kinh chẩn đoán Alzheimer giai đoạn sớm. Tôi hỏi bác sĩ ba lần là còn bao lâu. Ba lần bác sĩ trả lời giống nhau: không hứa được. Có người giữ được nhiều năm. Có người một năm đã khác hẳn. Tôi chỉ biết từ tháng Ba tới giờ, u tôi quên tên chú tôi hai lần, quên đường ra chợ một lần. Nhưng tháng trước bà vẫn tự hun muội được một bát đầy, không sai bước nào.
– Tay nhớ lâu hơn đầu. – Nghiên nói.
– Bác sĩ cũng nói thế.
– Hai?
– Hai. – Anh chỉ dòng tiếp. – Tháng Tám có một ông tên Nhẫn, đại diện một công ty làm vàng lá ở Thành phố Hồ Chí Minh, tới nhà tôi. Chú tôi dẫn tới. Họ muốn mua cách làm giấy quỳ, để mở một dòng hàng gọi là "thủ công truyền thống". Họ trả hai tỷ. U tôi cầm chổi đuổi ra. Đấy là lần đầu u tôi cầm chổi. Từ đấy hễ ai lạ hỏi tới chữ "vàng", bà lại cầm.
Nghiên nghĩ tới cái chổi rơm quét phành phạch trên nền gạch. Cô gật đầu.
– Chú anh là người thế nào?
– Chú Kế, em trai bố tôi. Có tiệm vàng ở chợ làng. Mấy năm nay làm ăn không được. – Hãn ngừng một chút, như cân xem có nên nói tiếp. – Chú tôi không phải người xấu. Chú tôi tin là nghề này chết rồi, bán đi lúc còn bán được là khôn. Chú nói với tôi thế, nói thẳng. Tôi không cãi được hết.
– Ba?
– Ba. Con trai chú tôi lấy vợ được hai năm. Vợ nó tên Viên, cô giáo mầm non, đang có bầu. Viên là dâu nhà Lã. Dâu thứ. Theo lệ, dâu trưởng được truyền trước. Nhà tôi chưa có dâu trưởng, nên u tôi bảo chờ. Nhưng… – Anh gõ đầu bút vào chữ "Viên" trên giấy. – Nếu một ngày u tôi quên luôn cái lệ ấy, chú tôi chỉ cần dắt Viên vào chái đúng một buổi u tôi tỉnh. U tôi dạy. Rồi bí quyết có giá hai tỷ.
Ân ngừng chà giấy ráp từ lúc nào. Nó ngồi im, tay vẫn cầm tờ giấy nhám.
– Bốn. – Hãn chỉ dòng cuối. – Tôi. Tôi là đàn ông. Tháng Tư tôi về ở hẳn với u, tôi xin u dạy tôi. U tôi đập vào tay tôi một cái, đau thật. Bà bảo đàn ông sờ vào giấy quỳ thì giấy hỏng. Bà tin thế. Tôi không cãi được một bà cụ đang dần quên mọi thứ trừ mấy cái điều bà tin.
Anh đặt bút xuống. Tờ giấy chỉ có bốn dòng. Phía dưới, cách một khoảng trắng, có một dòng thứ năm, gạch chân hai lần. Nghiên nhìn thấy nó trước khi anh kịp gấp giấy lại.
"5. Cưới. 1 năm."
– Anh nói luôn đi. – Cô bảo.
Hãn nhìn thẳng vào cô.
– Cô làm dâu nhà tôi một năm. Cưới theo lễ, để u tôi coi cô là dâu trưởng. U tôi sẽ dạy cô làm giấy quỳ. Cô có giấy, tôi đập, cô có vàng cho đình. Hết một năm, cô đi. Tôi nhận lỗi. Tôi không đụng vào cô.
Xưởng im tới mức nghe được tiếng xe máy rồ ga ngoài đầu ngõ.
– Anh nghĩ tôi là cái gì? – Nghiên hỏi. Giọng cô không to.
– Tôi nghĩ cô là người duy nhất trong ba tháng nay tới nhà tôi mà muốn học thật. – Hãn nói. – Những người khác đều muốn mua.
– Tôi cũng muốn mua. Tôi muốn mua vàng.
– Không. Hôm Thứ Bảy cô bảo u tôi: "Thế thì bác dạy tôi. Tôi tự làm." Cô không bảo "bác bán cho tôi". – Anh nói chậm. – Tôi nghe rõ.
Nghiên đứng dậy. Cô đi tới cửa xưởng, mở rộng cánh cửa ra.
– Anh về đi.
Hãn không cãi. Anh gấp tờ giấy làm tư, đặt lên góc bàn, viết số điện thoại của mình ở mặt sau, dù Nghiên đã có số anh từ hôm Thứ Bảy. Rồi anh cầm cặp, đứng dậy, cúi đầu chào Ân, cúi đầu chào Nghiên.
– Tôi xin lỗi vì lá vàng. Năm mươi nghìn phải không? – Anh rút ví.
– Anh cất đi.
– Được.
Anh đi ra. Tới đầu ngõ, anh quay lại nói vọng vào:
– Hai tỷ là giá của người mua. Tôi không trả cô đồng nào. Cô nhớ cho tôi điều đó.
Rồi anh đi thật.
Ân đợi tiếng xe máy khuất hẳn mới lên tiếng.
– Chị ơi.
– Làm việc đi.
– Em chỉ hỏi một câu. Lúc nãy anh ấy nín thở được bao lâu nhỉ? Em đếm được hai mươi tư giây. Người thường mười lăm giây là đỏ mặt rồi.
– Ân!
– Em làm việc đây.
Nghiên quay lại với pho tượng. Cô lấy lá vàng khác, nín thở, đặt lên vầng hào quang. Lá thứ hai cũng rách mép. Lá thứ ba thì được. Cô dùng bông gòn miết nhẹ, vàng bám vào lớp sơn còn se mặt, sáng lên một vệt. Sáng mà lạnh. Cụ Hội nói đúng.
Ba giờ chiều, điện thoại reo. Cụ Hội. Cụ không bao giờ nhắn tin, cụ chỉ gọi, và chỉ gọi khi có điều quan trọng.
– Cô thợ đấy à? Tôi nghe nói cô lên Đông Kiều rồi.
– Dạ, cháu lên hôm Thứ Bảy.
– Lò ấy còn không?
– Dạ… còn ạ. – Nghiên nói, và tự thấy chữ "còn" của mình mỏng như lá vàng.
– Tôi nói trước cho cô biết. Ban chúng tôi họp rằm tháng Chín. Nếu tới hôm ấy cô chưa cho tôi xem được một lá vàng quỳ thật, hay ít ra một tờ giấy quỳ thật, thì tôi buộc lòng báo ban giao lại phần thếp cho người khác. Có công ty xin làm rồi. Họ dùng vàng máy. Tôi không muốn. Nhưng tôi tám mươi tuổi rồi, cô thợ ạ, tôi không chờ được người.
– Cháu hiểu.
– Cô hiểu là tốt.
Cụ cúp máy. Nghiên ngồi nhìn cái điện thoại. Rằm tháng Chín là đầu tháng Mười Một dương. Còn sáu tuần.
Cô đã nhận tiền ứng của đình. Bốn mươi phần trăm. Tiền ấy cô đã trả cho hai ông thợ mộc sửa lại cỗ kiệu, đã mua sơn ta Phú Thọ loại tốt, đã mua son, mua bột đá, trả tiền nhà xưởng ba tháng. Nếu đình rút hợp đồng, cô phải hoàn lại. Cô không có đủ để hoàn lại. Và cái tên "nhóm phục chế của Nghiên" sẽ bị nhắc tới trong mọi câu chuyện của mấy ông khánh tiết các làng quanh đây như một bài học.
Tối, bố gọi. Ông Hiệp gọi mỗi Thứ Hai, đúng tám giờ, như một cái đồng hồ.
– Việc đình thế nào con?
– Ổn bố ạ.
– Con nói "ổn" là không ổn. – Bố cô nói, giọng thợ, không vòng vo. – Vàng đâu?
– Con lên Đông Kiều rồi.
Đầu dây bên kia im một lúc.
– Lò ông Cừ à? Ông ấy mất rồi.
– Bà cụ còn.
– Bà cụ còn thì giấy còn. – Bố cô nói, rồi thở dài. – Nhưng làng ấy khó lắm con ạ. Ngày xưa bố lên lấy vàng, cả mười năm, chưa bao giờ được bước chân vào cái chái sau nhà họ. Ông Cừ thân với bố thế mà cũng không cho.
Nghiên nhớ ra câu bà cụ nói hôm Thứ Bảy, ông nhà có ông bạn sơn mài dưới Nam Định, mỗi năm lên lấy vàng một lần. Cô đã tưởng đó là chuyện bà kể để mà kể.
– Bố ơi, ông bạn sơn mài của ông Cừ là bố à?
– Còn ai nữa. Sao con hỏi?
– Không ạ.
Cô cúp máy. Cô ngồi một mình trong xưởng, đèn huỳnh quang trắng bệch. Tờ giấy gấp tư của Hãn vẫn nằm ở góc bàn. Cô mở ra, đọc lại năm dòng. Nét chữ thẳng, không gạch xóa chỗ nào, trừ dòng thứ năm có vết bút đè lên nhiều lần, như người viết đã ngồi rất lâu trước con số "1 năm".
Bảy năm trước, sáng hôm ấy ở Đông Kiều, cô ngồi trên bậc cửa gian xưởng từ năm giờ. Ông Cừ đập một mình trên cái đe giữa. Tiếng búa không dồn dập như cô tưởng. Nó đều, chậm, lên một nhịp, xuống một nhịp, nghỉ, rồi lại lên, như có ai đang ru. Mười giờ, ông mở cối giấy, nhấc lên một lá vàng to bằng bàn tay, mỏng tới mức cô thấy được ánh nắng xuyên qua, xanh lục. Ông đưa cho cô cầm. Cô nín thở. Ông cười, bảo: thợ thếp vàng mà thở mạnh thì phí vàng của thợ đập.
Trên đường về, cô bảo thầy: nếu có ngày em được học làm giấy quỳ, em sẽ dạy cho cả con gái. Thầy cô cười, bảo em cứ mơ đi, làng ấy ba trăm năm chưa ai làm thế.
Mười một giờ đêm, Ân đã về phòng trọ từ lâu. Nghiên cầm điện thoại, bấm số ở mặt sau tờ giấy. Chuông đổ tới hồi thứ tư thì có người nhấc máy. Đầu dây bên kia ồn ào tiếng máy trộn bê tông, tiếng ai đó quát "lùi, lùi nữa".
– Alô, Hãn đây.
– Anh đang ở đâu?
– Công trường. Tối nay đổ bê tông trụ số bốn. Cô cần gì?
Nghiên nhìn pho tượng trên bàn, vầng hào quang loang lổ vàng lạnh. Cô hít vào một hơi, rồi thở ra.
– Anh có biết nấu cơm không?
Đầu dây bên kia im. Tiếng máy trộn quay ầm ầm. Rồi giọng Hãn vang lên, không cười, rất rõ:
– Biết. Cả cá rô rang.
— Hết chương 2 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe