Chương 4: Về Nam Định xin cưới
Bà Ngấn vừa bước qua bậc cửa nhà Nghiên đã đứng sững lại, chỉ tay vào ông Hiệp, nói to:
– Ông Hiệp sơn mài! Ông còn nợ nhà tôi hai thếp vàng năm chín sáu!
Cả gian nhà im phắc. Mâm trầu cau trên tay chú Kế khựng lại giữa chừng. Bà Mỵ, mẹ Nghiên, đang tươi cười ra đón, nụ cười đứng sững trên mặt. Thằng Đôn, em trai Nghiên, đang rót nước, nước tràn ra khay.
Ông Hiệp đứng dậy khỏi ghế. Ông sáu mươi ba tuổi, gầy, tóc muối tiêu cắt ngắn, hai bàn tay thô và nhẵn ở đầu ngón như mọi người thợ sơn mài mài sơn cả đời. Ông nhìn bà Ngấn một lúc lâu.
– Chị Ngấn, – ông nói. – Năm chín sáu tôi trả rồi mà. Tôi trả bằng một bức bình phong.
– Bình phong à? – Bà Ngấn nghĩ. – À, bình phong. Có. Có. Bức bình phong vẽ con hạc. Ông nhà tôi để ở gian giữa mười năm, rồi mối ăn.
– Mối ăn à chị?
– Mối ăn. – Bà Ngấn gật đầu chắc nịch, rồi quay sang Hãn, ngơ ngác. – Mình đến nhà ông Hiệp làm gì thế con?
Hãn đỡ khuỷu tay mẹ, dìu bà ngồi xuống ghế.
– Mình đến xin cưới con gái bác Hiệp cho con, u ạ.
– Con gái ông Hiệp à? Ông Hiệp có con gái à?
Nghiên đứng ở cửa buồng, bên cạnh mẹ. Cô thấy mắt bố mình đỏ lên. Cô chưa thấy bố khóc bao giờ, kể cả hôm bà nội mất.
Hôm Thứ Năm, Nghiên gọi về nhà, nói con định lấy chồng, Chủ nhật này nhà trai xuống dạm ngõ. Mẹ cô hét lên trong điện thoại, rồi khóc. Rồi bà gọi lại lần nữa để hỏi nhà trai làm nghề gì, rồi gọi lần thứ ba để hỏi có phải chửa trước không. Bố cô thì chỉ hỏi một câu: nhà nó ở đâu. Nghiên bảo Đông Kiều. Đầu dây bên kia im rất lâu, rồi bố bảo: ừ, thế thì xuống.
Nghiên đã biết từ hôm Thứ Hai rằng ông Cừ là bạn của bố. Nhưng cô không biết bà Ngấn nhớ bố.
Mâm trầu cau được đặt lên bàn thờ. Chú Kế, đại diện nhà trai, đứng ra nói mấy câu theo lệ. Chú sáu mươi hai tuổi, người đậm, tóc chải ngược, áo sơ mi trắng đóng thùng, đồng hồ vàng to bản ở cổ tay. Giọng chú to và trơn như người quen nói trước đám đông, quen trả giá.
– Thưa anh chị, hôm nay nhân ngày lành tháng tốt, gia đình chúng tôi có lời…
Trong khi chú nói, Nghiên thấy mắt chú lướt qua căn nhà. Cái tủ chè cũ, bộ bàn ghế gỗ xoan, bức tranh sơn mài vẽ cảnh làng quê treo ở tường, cái xưởng thông sang phía sau có mùi sơn ta hăng hắc. Cái nhìn của người làm nghề vàng bạc, đánh giá từng thứ một. Rồi mắt chú dừng lại ở Nghiên. Chú cười, gật đầu với cô, rất lịch sự.
Nghiên gật lại. Cô nhớ Hãn dặn: chú tôi không phải người xấu. Chú tôi chỉ tin là nghề này chết rồi.
Sỹ, con trai chú Kế, người lái chiếc xe bảy chỗ thuê từ sáng, ngồi lặng lẽ ở góc, uống hết ba chén nước, không nói câu nào. Anh hiền, ít nói, mỗi lần bố anh to tiếng là anh lại cúi xuống nhìn mũi giày.
Bữa trưa, mẹ Nghiên làm bốn mâm. Hàng xóm sang đủ. Ai cũng muốn nhìn mặt chàng rể kỹ sư làm cầu ở Hà Nội. Ai cũng khen bà Ngấn trẻ, khen bà phúc hậu. Bà Ngấn cười, cảm ơn, rồi hỏi bà hàng xóm ngồi cạnh rằng hôm nay nhà ai có cỗ. Bà hàng xóm tưởng bà đùa, cười phá lên. Hãn không cười. Anh gắp cho mẹ miếng thịt gà, bóc sẵn lớp da, như người ta làm cho trẻ con.
Mẹ Nghiên để ý. Nghiên thấy mẹ để ý.
Lúc dọn mâm, mẹ cô kéo Hãn xuống bếp, bảo cháu xách hộ cô ấm nước. Nghiên bưng chồng bát theo sau, nghe được cả.
– Cháu làm cầu thì đi suốt à?
– Dạ, cầu cháu đang làm cách nhà hai cây số, cô ạ. Cháu đi xe máy năm phút.
– Thế làm xong cầu này thì đi đâu?
– Dạ, cháu chưa biết. Cháu xin làm gần nhà. Nhà cháu chỉ có u cháu.
Mẹ cô gật gù, rồi hỏi tiếp, không chút ngượng:
– Con Nghiên nhà cô nấu ăn dở lắm. Cháu biết chưa?
– Dạ, cháu biết rồi ạ.
– Biết rồi mà vẫn lấy?
– Dạ, cháu nấu được.
Mẹ cô quay lại nhìn Nghiên đang đứng ở cửa bếp, nhìn từ đầu tới chân như nhìn một con gà mình nuôi từ bé mà giờ mới thấy nó biết gáy. Rồi bà dúi vào tay Hãn một túi lạc rang húng lìu, bảo mang về cho bà cụ.
Sau bữa cơm, khi mọi người đang uống nước, bố Nghiên đứng dậy, bảo Hãn theo ông ra xưởng. Nghiên định đi theo, bố giơ tay: con ở đây.
Cô vẫn đi theo, chỉ là đứng ở ngoài cửa sổ.
Xưởng sơn mài của bố là một gian nhà ngang, mái ngói, nền láng xi măng, có cái bể nước để mài. Mấy tấm vóc đang mài dở kê dọc tường, mùi sơn ta và mùi nước lã lẫn vào nhau. Bố mở cái tủ gỗ nhỏ khóa bằng ổ khóa đồng, lấy ra một cuốn giấy màu ngà, gói trong vải đỏ. Ông mở ra. Bên trong là một tập lá vàng, mỗi lá kẹp giữa hai tờ giấy mỏng.
Nghiên nín thở. Cô biết đó là gì. Cô đã thấy tập ấy một lần duy nhất, năm cô mười lăm tuổi. Bố bảo đó là vàng quỳ Đông Kiều, của ông Cừ, ông giữ để dành, bao giờ có việc thật lớn mới dùng.
– Anh xòe tay ra. – Bố cô nói với Hãn.
Hãn xòe bàn tay phải. Bố cô dùng một cái kẹp tre, nhấc một lá vàng lên, đặt vào giữa lòng bàn tay anh. Lá vàng mỏng tới mức trông như không có trọng lượng, nó nằm đó, mép hơi cong lên theo hơi ấm của da người.
– Đứng đấy. – Bố cô nói. – Tôi bảo thở thì thở.
Rồi ông quay đi, thong thả rửa một cái bát mài, thong thả lau khô, thong thả xếp vào giá. Hãn đứng im như tượng. Nghiên đếm. Mười giây. Hai mươi giây. Ba mươi giây. Mặt Hãn bắt đầu đỏ, nhưng lá vàng không hề động. Bốn mươi giây. Bố cô vẫn lau bát.
Bốn mươi lăm giây.
– Thở đi. – Bố cô nói.
Hãn quay mặt sang một bên, thở ra thật xa khỏi lòng bàn tay. Lá vàng run lên một chút, rồi nằm yên. Bố cô cầm kẹp, nhấc nó về lại tập giấy.
– Ông Cừ dạy anh à?
– Dạ, bố cháu dạy. Hồi cháu mười lăm tuổi, bố cho cháu đứng đe. Cầm lá vàng thì phải biết nín thở.
– Ừ. Ông ấy dạy ai cũng thế.
Bố cô gói tập vàng lại. Ông không cất vào tủ ngay mà đặt nó lên bàn, đặt tay lên trên.
– Bên ấy làng có lệ khó. – Ông nói. – Truyền dâu không truyền gái. Tôi lên lấy vàng mười năm, chưa bao giờ được nhìn vào cái chái sau nhà các anh.
– Vâng.
– Con gái tôi nó mê cái nghề ấy từ năm hai mươi tuổi. Nó chép cả cái lệ ấy vào luận văn.
Hãn im. Nghiên đứng ngoài cửa sổ, tim đập mạnh tới mức cô sợ bố nghe thấy.
– Thôi. – Bố cô nói. – Anh ra uống nước đi. Đường về xa.
Ba giờ chiều, chiếc xe bảy chỗ rời ngõ. Bà Ngấn ngồi ghế sau vẫy tay, gọi bố Nghiên là ông Hiệp sơn mài, dặn lần sau lên lấy vàng thì nhớ mang bánh gai. Mẹ Nghiên vẫy theo tới khi xe khuất ở đầu làng, rồi quay sang Nghiên, mắt long lanh.
– Bà cụ thế mà hiền. Thằng chồng mày thế mà biết thương mẹ.
– Vâng.
– Mà bà cụ bị làm sao? Quên quên thế nào ấy.
– Bà cụ bị bệnh, mẹ ạ. Bệnh quên. Con kể mẹ sau.
– Thế mày lấy nó vì thương nó hay thương bà cụ?
Nghiên không trả lời. Cô nhớ điều bảy: không nói dối những gì không bắt buộc. Điều ấy viết cho bà Ngấn. Nhưng hôm nay cô thấy nó cũng đang đứng giữa sân nhà mình.
Đêm ấy, Nghiên ngủ lại nhà. Mười một giờ, cả nhà đã tắt đèn, cô thấy ánh đèn trong xưởng của bố vẫn sáng. Cô đi ra. Bố ngồi trên cái ghế đẩu thấp, đang mài một tấm vóc dưới vòi nước. Tiếng đá mài sột soạt đều đều. Ông không ngẩng lên.
– Bố chưa ngủ à?
– Chưa. – Bố cô nói. – Ngồi đi.
Nghiên ngồi xuống bậc cửa. Đêm cuối tháng Chín dương, ngoài vườn có tiếng dế. Mùi hoa ngâu thoang thoảng từ bụi ngâu nhà bên.
– Bố biết con không yêu nó. – Bố cô nói, tay vẫn mài. – Con thương ai thì con cãi người ấy suốt. Con với nó từ sáng tới giờ chưa cãi nhau câu nào.
Nghiên nhìn những vệt sơn đen trôi theo dòng nước trên mặt vóc.
Cô kể. Cô kể hết. Từ cái chổi rơm, chén nước chè, cụ Hội, rằm tháng Chín, tờ giấy gấp tư có năm dòng, chín điều viết trên sổ kẻ ô. Cô không giấu điều nào, kể cả điều chín. Bố cô nghe, không ngắt lời, không dừng tay. Khi cô kể xong, tấm vóc đã mài nhẵn tới mức thấy được bóng đèn phản chiếu trong lớp sơn đen.
Ông tắt vòi nước. Ông lau tay vào cái khăn vắt trên vai.
– Lấy nhau vì nghề thì cũng là lấy nhau. – Ông nói. – Ngày xưa bà nội con cũng về làm dâu vì ông nội con có cái lò nung vóc. Bà bảo thế. Bà nói thật.
– Bố không giận con à?
– Bố giận. – Ông nói, giọng không đổi. – Nhưng bố hiểu. Con mê cái nghề ấy tám năm. Người ta đưa cho con cái chìa khóa. Con không cầm thì con tiếc cả đời.
Ông đứng dậy, cầm tấm vóc lên soi ra đèn.
– Bố chỉ dặn con một câu. Bà cụ đang quên dần. Người ta quên thì cái gì người ta còn giữ được là của quý. Con đừng làm khổ bà cụ.
– Con biết rồi.
– Còn một câu nữa. – Bố cô nói, đặt tấm vóc xuống. – Mẹ con thì đừng kể. Mẹ con giữ mồm không được ba ngày. Cả chợ biết.
Nghiên bật cười. Cô cười tới chảy nước mắt. Bố cô cũng cười, nụ cười khô và ngắn.
Lúc ấy, Nghiên không biết rằng từ chiều, trên chiếc xe bảy chỗ chạy về Hà Nội, có một cuộc nói chuyện khác.
Bà Ngấn ngủ gục ở ghế sau, đầu tựa vai Hãn. Sỹ lái xe, im lặng. Chú Kế ngồi ghế trước, cởi hai cúc áo sơ mi trắng cho đỡ nóng, đồng hồ vàng tháo ra cầm tay, mân mê. Xe chạy qua những cánh đồng lúa đã gặt, rơm phơi vàng hai bên đường.
– Cô bé ấy làm nghề thếp vàng à? – Chú Kế hỏi, không quay lại.
– Vâng.
– Biết cả tiếng vàng quỳ Đông Kiều.
– Vâng.
– Tháng Ba chị dâu chú bị bệnh. Tháng Tám ông Nhẫn lên. Tháng Chín cháu đòi cưới một cô thợ thếp vàng mới gặp dăm bữa. – Chú Kế đếm trên đầu ngón tay, rồi đeo đồng hồ lại, cài khóa đánh tách một tiếng. Chú nhìn Hãn qua cái gương chiếu hậu, mỉm cười. – Cháu tưởng chú không biết à?
— Hết chương 4 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe