Chương 23: Lời ông Tề
– Cô dâu! Cô dâu về rồi à! Vào đây! Vào đây!
Ông Tề ngồi xổm giữa sân, trước mặt là một bó nan tre và cái lồng gà đan dở. Ông không đứng dậy, chỉ giơ con dao vót lên vẫy vẫy, quát to như quát người điếc, vì chính ông điếc.
Nghiên đứng ở cổng, tay xách cái bánh chưng mẹ gói và một gói chè. Cả làng Đông Kiều giờ không ai gọi cô là cô dâu nữa. Họ gọi cô dâu giả, con bé thành phố, con thợ vàng, hoặc không gọi gì cả, chỉ nhìn. Riêng ông Tề vẫn gọi cô dâu, giọng to như mọi khi.
Sáng Thứ Bảy, mùng năm Tết. Nhà ông Tề ở xóm trên, nhà cấp bốn ba gian, sân đất nện, có một cây khế và một cái giếng khơi. Bà vợ ông mất đã lâu. Ông ở với vợ chồng thằng con út, chúng nó đi làm khu công nghiệp, Tết cũng chỉ nghỉ ba ngày.
Ông Tề rót nước. Nước chè xanh nguội, chát lè. Ông ngồi trên cái chõng tre, Nghiên ngồi trên cái ghế con.
– Ông ơi, cháu hỏi ông chuyện đêm gió bấc.
– Hả?
– Đêm gió bấc! – Nghiên nói to. – Ngày xưa cụ Gái đuổi đàn ông vào nhà!
Ông Tề đặt chén nước xuống. Ông nhìn cô một lúc, mắt nheo lại, như nhìn một cái đe để xem chỗ nào lõm.
– Cô dâu làm hỏng giấy rồi phải không?
Nghiên không ngờ ông hỏi thẳng thế.
– Dạ. – Cô nói. – Cháu làm hỏng.
– Ừ. – Ông Tề gật gù. – Tao đếm ba trăm chín mươi tờ, tao biết. Giấy phơi nắng thì giòn. Giòn thì gãy. Tao không biết làm giấy, nhưng tao đập giấy năm mươi năm, tao biết giấy giòn.
Ông im một lúc. Rồi ông kể. Không to nữa. Giọng ông hạ xuống, khàn khàn, như sợ ai nghe.
Năm ông bảy, tám tuổi, bố ông đứng đe cho lò cụ Gái. Ông theo bố sang lò, ăn cơm lò, ngủ ở lò. Có những đêm cuối đông, gió bấc thổi, trời trong vắt không một gợn mây. Những đêm ấy cụ Gái đi từ gian xưởng ra tới bếp, đuổi hết đàn ông, cả người lớn lẫn trẻ con, vào bếp, đóng cửa, cài then bên ngoài.
– Cài then bên ngoài! – Ông nói, như còn tức. – Đàn ông nhốt trong bếp như nhốt gà!
Đàn ông ngồi trong bếp, uống rượu, đánh tổ tôm. Ông Tề bé con, không ngủ được, áp mắt vào cái lỗ thủng trên vách đất trát rơm.
– Tao nhìn thấy. – Ông nói. – Ngoài sân tối om. Không đèn. Chỉ có ánh sao. Giàn tre dựng khắp sân. Giấy đen trải trên giàn. Không phải treo đâu nhá. Trải ra, nằm ngang, như trải chiếu.
– Rồi sao hả ông?
– Rồi cụ Gái với mấy người đàn bà trong nhà đi dọc giàn. Đi chậm. Cúi xuống. Lật giấy. Tờ này lật, tờ kia lật. – Ông Tề giơ hai bàn tay ra, làm động tác lật một tờ giấy, chậm rãi, cẩn thận. – Mà vừa lật vừa hát.
Nghiên ngồi thẳng dậy.
– Hát bài gì ạ?
– Thì cái bài ấy! – Ông Tề nói. – Bài ru! Bài thằng Hãn hát lúc đập! Mấy bà ngoài sân hát, đêm gió to, gió át đi, tao trong bếp chỉ nghe được cái điệu. Lời thì gió nó cuốn mất. Tao nhớ có một lúc cụ Gái đếm. Đếm to. Một, hai, ba… mà tao không biết cụ đếm cái gì.
– Ông Cừ đứng đe hát bài ấy, ông Cừ có hát lời không ạ?
– Có lúc có, lúc không! Ông ấy hát lí nhí trong miệng, như người ta lẩm bẩm. – Ông Tề gõ gõ vào tai mình. – Tao điếc từ năm bốn mươi tuổi. Ông ấy hát cả đời bên tai tao, tao chẳng nghe ra chữ nào! Mà tao cũng chẳng hỏi. Đàn ông hát cho đều búa thôi, ai hỏi lời làm gì.
– Cụ Gái đếm tới mấy ạ?
Ông Tề nghĩ rất lâu. Rồi lắc đầu.
– Không nhớ. Tao ngủ gật.
– Mấy đêm hả ông? Đuổi đàn ông vào bếp mấy đêm?
– Mấy đêm liền. – Ông nói. – Hai đêm. Ba đêm. Bốn đêm. Tao không nhớ. Đêm nào trời trong, gió bấc, thì đêm ấy bị nhốt. Đêm nào mưa thì không. Mưa thì cụ cuốn giấy vào.
Ông cầm con dao vót lên, vót một nan tre, rất chậm.
– Sáng ra tao chạy ra sân. Giấy vẫn trên giàn. Tao sờ một tờ. – Ông Tề nhìn bàn tay mình. – Lạnh. Ẩm. Như sờ lá khoai sáng sớm. Không ướt. Ẩm. Mềm. Tao đang sờ thì cụ Gái đánh vào tay tao một cái, đau thật. Cụ bảo: đàn ông sờ vào giấy thì giấy hỏng.
Nghiên ngồi im. Lạnh. Ẩm. Mềm. Không ướt.
– Ông có biết vì sao cụ đuổi đàn ông vào không ạ?
– Cụ bảo đàn ông nóng tay. – Ông Tề nói. Rồi ông cười, lộ hàm răng móm. – Mà tao nghĩ khác. Tao nghĩ cụ đuổi đàn ông vào để đàn ông khỏi ra sân hút thuốc lào, khỏi đốt đống lửa sưởi. Đàn ông đêm rét là đốt lửa. Lửa làm khô giấy. Cụ không muốn giấy khô.
Nghiên mang câu ấy về lò, như mang một cục than hồng trong lòng bàn tay.
Hãn đang ngồi ở hiên sau với bà Ngấn. Bà bóc lạc, anh sửa cái giàn tre. Thấy Nghiên dắt xe vào, bà Ngấn ngẩng lên.
– Con bé nín thở về rồi.
– Dạ. Con về, u.
– Mày ăn gì chưa?
– Con ăn rồi.
– Ăn rồi thì ngồi đây bóc lạc với tao.
Nghiên ngồi xuống. Cô bóc lạc với bà. Hãn ngừng sửa giàn, nhìn cô. Cô kể. Kể hết câu chuyện ông Tề, chậm, từng chữ. Bà Ngấn bóc lạc, không nghe, hoặc nghe mà không có vẻ gì là nghe. Chỉ có một lúc, khi Nghiên nói tới "lạnh, ẩm, như sờ lá khoai sáng sớm", tay bà dừng lại một nhịp trên một hạt lạc.
– Đêm sương thì giấy nó thở. – Bà nói, không với ai.
Nghiên quay sang.
– U nói gì ạ?
– Tao có nói gì đâu. – Bà Ngấn bảo, rồi bóc tiếp, như hôm đầu tiên ở hiên sau bà bảo cô nghe nhầm.
Kể xong, Nghiên đứng dậy, đi lên nhà trên. Cô đứng trước bàn thờ, chắp tay vái ba vái, rồi khẽ nói:
– Con xin phép ông.
Cô cầm cái đĩa có tờ giấy quỳ cuối cùng của ông Cừ, mang xuống hiên. Bà Ngấn nhìn thấy, không cản. Bà chỉ nói: của ông nhà tôi đấy, cầm cẩn thận.
Hãn đã khiêng từ vườn sau lên cái bao tải giấy vỡ. Anh lấy ra một tờ còn nguyên trong mười tờ đáy cối. Hai tờ giấy đặt cạnh nhau trên tấm phản.
Nhìn qua, giống nhau. Cùng đen. Cùng bóng.
Nghiên cầm tờ giấy của ông Cừ, uốn nhẹ. Nó cong theo tay cô, mềm như một miếng da thuộc, rồi khi cô buông ra nó từ từ bật lại, phẳng. Cô cầm tờ giấy phơi nắng, uốn nhẹ hơn. Nó kêu tách một tiếng, gãy làm đôi.
Cô áp tờ giấy của ông Cừ vào má. Mát. Không lạnh, mà mát, như có một chút hơi nước nằm sâu trong thớ giấy. Cô áp tờ giấy phơi nắng vào má. Khô. Ráp. Như tờ báo cũ để trên nóc tủ.
Rồi cô mở gói vải đỏ trên bàn thờ ra, vái thêm một vái nữa, lấy một lá vàng của ông Cừ bằng cái kẹp tre bố cô để kèm trong gói. Cô lấy lá vàng rách của mình trong túi áo. Hai lá vàng đặt lên tờ giấy bản trắng. Cô giơ cả hai lên trước nắng.
Lá vàng của ông Cừ: ánh sáng xuyên qua thành màu xanh lục đều, trên mặt lá có những gợn rất nhỏ, mềm, uốn lượn như vân nước ao lúc có gió nhẹ.
Lá vàng của cô: ánh sáng cũng xanh, nhưng lốm đốm. Trên mặt lá, nếu nhìn thật kỹ, có một mạng lưới những đường mảnh như sợi tóc, gãy khúc, đan vào nhau. Như mặt ruộng nẻ.
Hãn đứng sau lưng cô, nhìn qua vai cô.
– Vàng in mặt giấy. – Anh nói khẽ. – Giấy nứt thế nào thì vàng in thế ấy.
– Anh nhìn cái mạng nứt này có giống gì không?
Hãn nhìn rất lâu. Rồi anh nói, giọng của người đứng trước một mẫu bê tông vừa ép:
– Nứt chân chim. Nứt co ngót mặt.
– Là gì?
– Bê tông đổ xong mà để nắng gắt, gió khô, thì mặt nó nứt đúng như thế này. – Anh nói. Anh ngồi xuống bậc hiên, nhặt một que tre, vạch xuống nền gạch. – Bên trong còn ướt. Mặt ngoài nước bay đi nhanh quá. Mặt co lại, bên trong không co theo kịp, thế là nứt. Mắt thường nhìn không thấy, nhưng để lâu, chịu lực, nó gãy theo đúng mấy đường ấy.
– Thế làm cầu người ta chống nứt thế nào?
– Bảo dưỡng ẩm. – Hãn nói. – Đổ xong phủ bao tải, tưới nước, che nắng. Giữ cho mặt nó ẩm, cho nó khô từ từ, khô đều cả trong lẫn ngoài. Đúng quy trình thì bảy ngày. Bảy ngày đầu là quan trọng nhất.
Nghiên ngồi xuống cạnh anh. Cô nhìn cái que tre trong tay anh, nhìn những đường anh vạch trên nền gạch.
– Bảy ngày. – Cô nói.
– Ừ.
– Ủ chum cũng bảy ngày. Ủ kín, giữ hơi.
Hãn quay sang nhìn cô. Cô cũng nhìn anh.
– Nước tư nhiều keo hơn. – Nghiên nói, nói nhanh, như sợ ý nghĩ chạy mất. – Keo da trâu mà khô nhanh thì giòn. Em thếp vàng em biết. Lớp sơn lót mà phơi nắng thì nứt, phải để trong buồng ủ, ẩm, khô từ từ. Nước tư phơi nắng là mặt khô trước, trong chưa khô. Em làm hỏng đúng như anh nói. Nứt co ngót.
– Còn đêm thì sao?
– Đêm thì lạnh, có sương. Khô chậm. – Cô nói. – Ông Tề sờ thấy ẩm, mềm, như lá khoai sáng sớm. Cụ Gái không cho đàn ông đốt lửa. Cụ không muốn giấy khô nhanh. Gió bấc… gió bấc thì em không biết để làm gì. Có lẽ cho lạnh. Cho keo đông lại từ từ.
Hãn im. Anh nhìn xuống mấy đường vạch trên nền gạch.
– Thế là đúng hướng. – Cuối cùng anh nói. – Nhưng mình vẫn chưa có số.
– Em biết. Mấy đêm. Trải hay treo. Lật mấy lần. Lật lúc nào. Rồi ủ bao lâu. – Nghiên đếm trên đầu ngón tay. – Ông Tề bảo cụ Gái đếm, nhưng ông ấy ngủ gật.
– Còn bốn trăm tờ. – Hãn nói. – Đoán sai thêm một lần là hết.
Bà Ngấn ở đầu hiên vẫn bóc lạc. Bà ngâm nga cái điệu ru, khe khẽ, ư ử, không có lời. Hai người cùng quay lại nhìn bà. Bà không nhìn họ. Bà nhìn nắm lạc trong lòng bàn tay.
Nghiên quay lại. Cô nhìn Hãn. Lần này cô nhìn rất lâu, nhìn như bố cô nhìn một lớp sơn để biết lớp nào nằm dưới lớp nào.
– Bố em bảo, – cô nói, – hôm giỗ anh không đứng im. Anh đứng đỡ.
Hãn không nói gì.
– Bố em bảo bát cơm của u run. Anh nhìn u. Lúc u đứng dậy anh đứng bật dậy theo, tay giơ ra.
– U run. – Anh nói. Giọng anh rất nhỏ. – Tay u run, chân u run. Anh sợ u ngã ngay giữa sân. Anh sợ nếu anh cãi chú anh một câu, chú cãi lại một câu, hai người đàn ông to tiếng giữa sân trước mặt u thì u… – Anh dừng lại. – Anh không nghĩ ra câu nào đúng. Câu đúng là câu ấy. "U run." Anh không nghĩ ra là phải nói với em câu ấy.
– Sao anh không nói từ hôm ấy?
– Anh nghĩ em thấy. – Anh nói. – Em đứng ngay trước mặt u.
– Em không thấy. – Nghiên nói. – Em chỉ nhìn anh.
Hai người ngồi im trên bậc hiên. Gió đầu xuân thổi qua giàn tre trống, không còn tờ giấy nào. Bà Ngấn vẫn ngâm nga ở đầu hiên. Cái chữ "em" của cô, cô để ý, đã quay về. Lần này Hãn không nhắc.
Tối Thứ Hai, Nghiên đang ngồi trong xưởng Long Biên, viết dở phần thuyết minh về cái lò trong tập hồ sơ của Triều, thì điện thoại reo. Viên.
– Chị ơi. – Giọng Viên gấp. – Bác cứ đòi gặp chị. Từ chiều tới giờ. Bác không ăn cơm. Bác bảo phải gặp con bé nín thở, có chuyện phải nói. Bác bảo để mai thì bác quên mất. Giờ bác đang ngồi ở cái bàn của chị trong buồng trong, không chịu đi ngủ, cứ nhìn ra cửa sổ.
— Hết chương 23 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe