Chương 25: Hộp đồ của thím Thoan
Ông Nhẫn ngồi xuống cái ghế nhựa thấp của quán nước chân đê, hai đầu gối gần chạm cằm, cái áo sơ mi trắng vẫn cài kín cổ tay. Ông cảm ơn bà cụ bán nước như cảm ơn người phục vụ ở một nhà hàng sang.
– Anh Hãn chọn chỗ hay. – Ông nói. – Gió mát.
– Chỗ này chúng tôi ký một tờ giấy. – Hãn nói. – Chắc ông nghe nói rồi.
Ông Nhẫn nhìn anh, rồi nhìn Nghiên, rồi gật đầu, không cười.
Tối Thứ Tư, mùng chín tháng Giêng. Trời nồm, mặt bàn nhựa ướt lớp hơi nước mỏng, cái bóng đèn treo dưới mái lá cọ có một vòng sương mờ quanh. Bà cụ bán nước bưng ra ba cốc trà nóng và đĩa lạc rang, rồi lui vào trong, như cái tối tháng Chín.
Ông Nhẫn không vòng vo.
– Công ty tôi nâng giá. Ba tỷ. – Ông nói. – Lần này có thêm mấy điều. Sản phẩm mang tên lò Lã, Đông Kiều, in trên mỗi thếp vàng. Xưởng làm giấy đặt ngay ở làng, không mang đi đâu. Bà cụ làm cố vấn, có lương tháng, tới khi nào bà cụ không làm được nữa. Và tôi muốn mời cô Nghiên đứng đầu xưởng ấy.
Nghiên ngồi im. Cô thấy Hãn đặt hai bàn tay lên mặt bàn, mười ngón xòe ra, như đặt lên một tấm bản vẽ.
– Ông nói có một chuyện chú cháu chưa kể. – Anh nói.
– Vâng. – Ông Nhẫn nói. Ông rút trong cặp ra một tập giấy đánh máy, đặt lên bàn, không đẩy về phía ai. – Giữa tháng Một, anh Kế gửi cho công ty tôi năm mươi tờ giấy. Giấy đen, qua ba nước, chưa xong. Anh Kế bảo giấy của nhà anh ấy. Tôi tin một nửa.
Hãn không động đậy. Nghiên thấy cái vết sẹo nhỏ ở cằm anh trắng ra.
– Chúng tôi gửi phòng thí nghiệm. – Ông Nhẫn nói tiếp, giọng đều như đọc báo cáo. – Họ phân tích ra hết. Muội đèn dầu thực vật, hạt rất mịn. Keo da động vật, họ còn đoán được là da trâu. Xơ dó. Tỉ lệ từng nước. Rồi chúng tôi làm lại. Đúng giấy dó, đúng muội, đúng keo, đúng tỉ lệ. Làm ba lần. Lần nào giấy cũng ra đen, bóng, đẹp như thật. Cầm lên không ai phân biệt được.
– Rồi sao ạ? – Nghiên hỏi. Giọng cô khô khốc.
– Đập thì nứt. – Ông Nhẫn nói. – Giờ thứ hai. Ba lần như một.
Nghiên đặt cốc trà xuống. Tay cô run, trà sóng ra mặt bàn.
– Giờ thứ hai. – Cô nhắc lại.
– Vâng. – Ông Nhẫn nhìn cô, rồi như hiểu ra điều gì, ông nhìn lâu hơn. – Cô cũng thế à?
Cô không trả lời. Hãn trả lời thay.
– Ba trăm chín mươi tờ. Tháng Một.
Ông Nhẫn tháo kính ra, lau bằng góc áo, đeo lại. Lần đầu tiên Nghiên thấy ông có vẻ của một người không biết phải nói gì.
– Tôi kể chuyện này vì hai lẽ. – Cuối cùng ông nói. – Thứ nhất, tôi không làm ăn bằng giấy lấy trộm. Năm mươi tờ ấy phòng thí nghiệm cắt nát hết rồi, tôi không trả lại được. Tôi xin đền bằng tiền, anh nói bao nhiêu thì bao nhiêu. Thứ hai, ba tỷ không phải tôi trả cho thành phần. Thành phần tôi có rồi. Ba tỷ tôi trả cho cái không nằm trong tờ giấy.
– Cái ấy nằm trong đầu u tôi. – Hãn nói. – Mà đầu u tôi đang quên.
– Tôi biết. – Ông Nhẫn nói. – Nên tôi mới vội.
Nghiên mở cái túi vải để dưới chân. Cô lấy ra tập giấy ba trang gấp tư, cái biên bản ghi nhớ đã nằm trong ngăn kéo bàn cô từ tháng Mười Một, chiều nay cô mới mở khóa lấy ra. Ô ký tên bên A vẫn trống. Cô đặt nó lên bàn, đẩy về phía ông Nhẫn.
– Cái này của ông. – Cô nói. – Tháng Mười Một u đọc rồi. U hỏi kỹ thuật viên đàn ông hay đàn bà. U bảo không dạy. U bảo không bán. U quên nhiều thứ, nhưng chuyện ấy u nói hai lần, cùng một câu.
Ông Nhẫn nhìn tập giấy. Ông không cầm lên ngay.
– Tôi biết bà cụ không bán. – Ông nói. – Tôi vẫn phải hỏi. Đấy là việc của tôi. Cũng như việc của cô là thếp vàng, việc của anh Hãn là làm cầu.
Ông gấp biên bản lại, cho vào cặp. Rồi ông uống cạn cốc trà, đứng dậy, cúi chào hai người.
– Anh Kế không phải người xấu. – Ông nói trước khi đi. – Tôi làm ăn với nhiều người. Người xấu không gửi năm mươi tờ giấy rồi gọi cho tôi bốn lần để hỏi kết quả, giọng như người chờ kết quả xét nghiệm của người nhà.
Đêm ấy, Hãn mở ba cái chum.
Nghiên cầm đèn pin. Anh nhấc từng xấp ra, đặt lên tấm phản, đếm. Anh đếm hai lần. Rồi anh đứng thẳng lên.
– Ba trăm năm mươi.
Cái chum thứ ba, chum ngoài cùng, gần lối ra vườn, vơi đi một lớp. Lớp trên cùng. Nghiên soi đèn vào miệng chum. Trên thành chum còn một vệt tàn thuốc lá rơi, đã khô.
– Chú hút thuốc ở hiên sau. – Hãn nói. – Viên kể thế. Anh nghe mà không nghĩ gì.
Anh đậy vung lại, rất nhẹ.
Tối hôm sau, Hãn và Nghiên sang nhà chú Kế.
Chú đang ngồi một mình ở gian giữa, xem thời sự. Cu Mít ngủ trong buồng với mẹ. Sỹ đi ca. Bà thông gia đã về quê. Thấy hai người đứng ở cửa, chú tắt ti vi. Chú không mời ngồi.
– Ông Nhẫn nói với mày rồi phải không.
– Vâng. – Hãn nói.
– Thế thì mày sang đây chửi chú à? – Chú Kế nói, giọng to. – Giấy nhà tao. Nhà ông bà tao. Tao lấy năm mươi tờ giấy nhà tao thì làm sao?
– Chú không hỏi u cháu.
– Hỏi thì chị ấy cho à? – Chú Kế đứng dậy. – Ba mươi năm nay nhà này có ai hỏi chị ấy mà chị ấy cho cái gì không? Vợ tao hỏi ba mươi mốt năm. Ba mươi mốt năm!
Giọng chú vỡ ra ở chữ cuối. Cu Mít trong buồng ọ ẹ một tiếng. Chú Kế im bặt, quay đầu nhìn vào buồng, chờ. Thằng bé không khóc. Chú thở ra.
Rồi chú đi vào buồng mình. Một lúc sau, chú đi ra, tay cầm một cái hộp thiếc.
Đó là một cái hộp bánh quy cũ, loại hộp tròn ngày xưa người ta hay mua làm quà Tết, nắp in hoa đã bạc, gỉ ở mép. Chú đặt nó lên bàn uống nước. Chú mở nắp.
Bên trong là mấy tờ giấy dó. Bảy tờ. Tờ nào cũng đen, đen không đều, chỗ đậm chỗ nhạt, có vệt chổi quét chéo ngang dọc. Có tờ đã vỡ thành mấy mảnh, được ai đó xếp lại cho khớp như ghép một cái bát vỡ. Dưới đáy hộp là một cái lông gà trống, lông đuôi dài, cong, đã xác xơ. Và một tấm ảnh chụp một người đàn bà chừng bốn mươi tuổi, tóc búi, mặc áo cánh trắng, đứng cạnh cái giàn mướp, cười.
– Thím Thoan. – Chú Kế nói.
Nghiên ngồi xuống cái ghế. Cô không dám chạm vào.
– Thím mày quét lén. – Chú nói, giọng giờ rất nhỏ. – Ở bếp nhà này. Đêm. Tao ngủ rồi. Thím mày lấy muội ở đâu, mày biết không? Đèn dầu hỏa. Cái đèn bão treo ở chuồng lợn. Hun lên cái đĩa sắt. Keo thì nấu bằng da trâu xin ở lò mổ. Quét bằng chổi đót.
– Thím học ở đâu ạ? – Nghiên hỏi.
– Nhìn. – Chú Kế nói. – Cửa chái nhà mày có một cái khe ở bản lề dưới. Nằm sấp xuống mới thấy. Thím mày nằm sấp ở đấy. Năm này qua năm khác. Nhìn được cái chân cụ, cái nồi, cái chổi. Về nhà làm theo.
Hãn đứng im. Nghiên biết anh đang nghĩ tới cái khe ấy. Cái khe anh nằm sấp nhìn hồi bé.
– Rồi thím mày phơi. – Chú Kế nói. – Phơi nắng. Ở sân thượng nhà này. Nắng to lắm. Tờ nào cũng giòn. Tờ nào cũng gãy. Thím mày lấy cái búa con của tao đập thử, đập được mười nhát là vỡ. Ba mươi năm, thím mày làm được bảy tờ giữ lại được. Bảy tờ này. Không tờ nào đập được.
Nghiên cầm tờ giấy trên cùng lên, rất nhẹ. Cô lật mặt sau. Mặt sau có mấy vết nứt nhỏ như chân chim, đúng cái mạng nứt trên lá vàng rách của cô, đúng cái mạng nứt trên nền gạch Hãn vạch bằng que tre.
– Thím cũng phơi nắng. – Cô nói. – Thím đoán như cháu.
– Ba mươi năm thím mày đoán. – Chú Kế nói. – Cháu đoán ba tháng.
Chú ngồi xuống, đối diện hai người, hai tay đặt lên đầu gối. Không áo sơ mi trắng. Không đồng hồ vàng. Một ông già sáu mươi hai tuổi, áo len cũ có một lỗ thủng ở khuỷu tay.
– Mày muốn biết vì sao chú gửi giấy cho người ta không? – Chú nói với Hãn. – Chú muốn chứng minh với chị Ngấn. Chứng minh là cái bí quyết ấy chẳng có gì. Máy người ta phân tích ra hết. Mẹ chú giữ cả đời, chị Ngấn giữ cả đời, không cho vợ chú sờ vào, mà rốt cuộc chỉ là muội, là keo, là giấy. Máy nó đọc ra trong một tuần. Chú muốn cầm tờ giấy kết quả sang đặt trước mặt chị Ngấn, bảo chị xem này, cái chị giữ chẳng đáng gì cả.
Chú im một lúc.
– Máy nó đọc ra hết. – Chú nói. – Mà làm không được. Ông Nhẫn gọi bảo chú thế. Chú ngồi ở tiệm cả buổi chiều hôm ấy. Chú không biết mình mừng hay buồn.
Không ai nói gì. Trong buồng, cu Mít trở mình, ọ ẹ, rồi lại im.
– Chú xin lỗi mày. – Chú Kế nói, không nhìn Hãn, nhìn cái hộp thiếc. – Không phải xin lỗi vì năm mươi tờ giấy. Xin lỗi vì cái hôm giỗ. Chú say. Chú nói cái chõng tre. Mà không phải tại say. Chú muốn nói thế từ lâu rồi.
Hãn ngồi xuống cạnh chú. Anh cầm cái lông gà trống trong hộp lên, nhìn, rồi đặt lại.
– Còn ba trăm năm mươi tờ. – Anh nói. – Chưa qua nước tư.
– Ừ. – Chú Kế nói. – Đoán sai thêm một lần nữa là hết. Chú biết.
Hai chú cháu ngồi cạnh nhau, nhìn cái hộp bánh quy gỉ mép. Nghiên ngồi đối diện. Cô nghĩ tới người đàn bà trong tấm ảnh, nằm sấp trước một cái khe cửa, năm này qua năm khác, chỉ nhìn được cái chân của mẹ chồng và cái nồi. Cô nghĩ tới câu "em có phải người nhà này không anh".
Cô đậy nắp hộp lại, đẩy về phía chú.
– Chú cất đi. – Cô nói. – Của thím.
Hai người về lúc chín giờ. Đường ngõ tối, chỉ có ánh đèn từ mấy nhà hắt ra. Hãn đi bên cạnh Nghiên, không nói gì, rồi bỗng nói:
– Cái khe ở bản lề dưới. Anh tưởng chỉ mình anh biết.
– Cả làng này ai cũng nằm sấp nhìn qua cái khe ấy. – Nghiên nói. – Chỉ là không ai nói với ai.
Hai người đi tới gốc nhãn trước cổng lò. Trong nhà, đèn buồng bà Ngấn đã tắt. Đèn hiên sau vẫn sáng, rọi lên mấy cái chum đậy vung.
– Nếu có ngày em được dạy, – Nghiên nói, – em tháo cái cửa chái ấy ra.
Hãn dừng lại.
– Tháo cửa?
– Tháo. Không phải để ai cũng vào. – Cô nói. – Để không ai phải nằm sấp nữa. Ai muốn học thì đứng thẳng mà vào, ngồi xuống cạnh đèn. Ai không được học thì người ta nói thẳng vào mặt là không được, đừng để người ta nằm sấp nhìn qua khe ba mươi năm rồi chết.
Hãn nhìn cô rất lâu dưới ánh đèn hắt ra từ hiên.
– Cửa ấy bố anh tự tay đóng năm tám mươi mốt. – Anh nói. – Cùng năm bố trồng cây nhãn này.
– Thì anh cho phép. – Nghiên nói. – Luật không cho anh biết. Không cấm anh cho phép.
Anh bật cười, cái cười ngắn, khẽ, như hôm ở quán nước chân đê lần đầu cô nói câu ấy.
– Cô làm luật sư thì hơn. – Anh nói.
– Em làm thợ. – Cô nói. – Thợ cũng phải đọc hợp đồng.
Sáng hôm sau, Nghiên đang ở đình Thượng Lão thì Triều tới. Anh không mang hồ sơ. Anh đứng ở chân giàn giáo, mặt nghiêm, như người mang một tin không biết có nên mang.
– Nghiên ơi, tôi hỏi thật. – Anh nói. – Anh Hãn nhận lời đi Quảng Ngãi ba năm rồi phải không? Bạn tôi ở công ty tư vấn bảo họ chốt danh sách kỹ sư giám sát rồi, có tên anh ấy.
— Hết chương 25 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe