AI Truyện
Làm dâu một năm ở làng vàng quỳ

💞 Ngôn tình

Ba trăm năm mươi tờ trong chum

Làm dâu một năm ở làng vàng quỳ · Chương 27/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 27: Ba trăm năm mươi tờ trong chum

Cái hộp gỗ sơn đen nằm trên bàn làm việc ở buồng trong, đúng chỗ cô để quên, nắp đóng, và trên nắp có ai đặt một nắm xôi gói lá chuối đã nguội.

Nghiên đứng nhìn nắm xôi. Sáu giờ sáng Thứ Bảy, mười hai tháng Giêng. Cô đi từ Long Biên lúc năm giờ, trời còn tối, sương nồm đặc tới mức đèn xe chỉ rọi được ba mét. Đêm qua về tới xưởng cô mới biết mình để quên cái hộp. Cô ngồi trên ghế nhựa tới hai giờ sáng, nhìn chỗ trống trên bàn đồ nghề, nơi lẽ ra cái hộp phải nằm. Cả đời đi làm cô chưa quên nó lần nào.

Cô cất nắm xôi vào túi áo. Cô mở hộp, kiểm từng thứ. Bút lông. Bay. Bông gòn. Cái kẹp nhựa. Cái kẹp tre bọc khăn mùi xoa. Tờ giấy kẻ ô gấp ba trong lòng nắp. Đủ.

Bà Ngấn đang ngồi ở bậc thềm, chải tóc. Hãn đứng ở cửa bếp, tay cầm cái muôi. Anh nhìn cô. Cô nhìn anh. Không ai chào.

Nghiên đi ra giữa sân, đứng trước mặt bà Ngấn, nói rõ ràng, chậm, như Hãn vẫn nói với mẹ mỗi ngày.

– U ơi. Con về làm thợ. Con làm cho xong mẻ giấy. Có vàng cho đình thì con đi.

Bà Ngấn ngừng chải. Bà nhìn cô, cái nhìn trong mà xa.

– Thợ thì làm. – Bà nói. – Dâu thì làm. Ai cấm.

– Con là thợ, u ạ. Không phải dâu.

– Ừ. – Bà Ngấn nói, rồi búi tóc lại, cài cái trâm. – Thợ thì vào chái. Mày ngủ buồng trong. Buồng ấy của mày.

– Con…

– Buồng ấy của mày. – Bà nói lại, không to, không gắt, như nói cây nhãn kia của ông nhà tôi trồng. Rồi bà đứng dậy, đi ra hiên sau.

Hãn quay vào bếp. Nghiên nghe tiếng muôi gõ vào thành nồi, đều đều. Một lúc sau anh bưng ra hai bát cháo, đặt lên bậc thềm, một bát gần chỗ cô đứng, rồi đi lấy xe. Trước khi ra cổng, anh dừng lại.

– Sáng nay anh trực tới mười giờ. – Anh nói. – Về anh mở chum.

– Được.

Anh đi. Nghiên ngồi xuống bậc thềm, ăn bát cháo. Cháo trắng, trứng muối, có hành phi. Vẫn như mọi sáng.

Bà Ngấn dẫn cô ra hiên sau. Ba cái chum sành còn đậy vung kê sát chân tường, ba cái kia úp miệng xuống đất. Bà đặt bàn tay lên vung cái chum đầu tiên, giữ yên một lúc, như người ta đặt tay lên trán một đứa trẻ xem có sốt không.

– Mở ra. – Bà nói.

Nghiên mở. Bà Ngấn cúi xuống, ghé mũi vào miệng chum, ngửi. Mùi keo da trâu đã dịu, mùi muội, mùi giấy dó, và một mùi gì như mùi đất sau mưa.

– Giấy ngủ ngoan. – Bà nói. – Không mốc. Không chua.

Bà rút một tờ ra, uốn nhẹ trong tay. Tờ giấy đã qua nước ba cong theo tay bà, chưa dẻo như tờ của ông Cừ, nhưng không gãy. Bà búng ngón tay vào. Tiếng kêu không đanh. Tiếng bịch, đục, như vỗ vào da trâu.

– Còn tốt. – Bà nói, rồi đặt tờ giấy lại, đậy vung. – Giấy còn tốt thì người còn làm được.

Mười giờ rưỡi, Hãn về. Ân về cùng. Nó chạy xe từ Hà Nội lên, sau yên buộc chặt một cái hộp sắt nhỏ sơn xanh, bọc ba lớp túi nilon. Nó dắt xe vào sân, mặt căng như người mang bom.

– Chị ơi, vàng của đình đây. – Nó nói, giọng thì thầm dù cả sân không có ai ngoài người nhà. – Cả đường em không dám vượt xe nào.

Nghiên mở cái hộp sắt. Bên trong là mười lăm chỉ vàng thỏi của đình Thượng Lão, gói từng chỉ trong giấy đỏ, có chữ ký của cụ Hội trên mỗi gói. Cô đếm. Đủ. Cô đóng hộp lại, đưa cho Hãn.

– Anh cất hộ. – Cô nói. – Chỗ nào chắc nhất.

Hãn cầm cái hộp. Anh nhìn cô một giây.

– Được.

Anh mang cái hộp vào buồng bà Ngấn, mở cái tủ gỗ có khóa đồng, cái tủ bà cất tờ giấy quỳ cuối cùng của ông Cừ. Ân đứng nhìn theo, rồi quay sang chị nó, hạ giọng.

– Chị với anh rể vẫn chưa…

– Làm việc đi.

– Em chỉ hỏi.

– Ân.

– Em làm việc đây.

Buổi trưa, ba người ngồi trong gian xưởng. Hãn lấy một viên phấn, cái phấn anh vẫn dùng đánh dấu trên công trường, viết lên mặt vách vôi cạnh cái đe giữa. Anh viết ngược, từ dưới lên, như mọi lần anh tính tiến độ.

Hai mươi tám tháng Ba. Hội đình.

Hai mươi tới hai mươi bảy. Thếp, tám ngày.

Mười bảy tới mười chín. Đập vàng, ba ngày.

Mười lăm, mười sáu. Nện giấy non.

Tám tới mười bốn. Ủ chum, bảy ngày.

Rồi anh dừng phấn. Anh viết một dòng nữa, gạch chân hai lần.

Nước tư: phải phơi xong trước sáng mùng tám tháng Ba.

– Hôm nay hai mươi tám tháng Hai. – Anh nói. – Còn tám ngày.

– Gió bấc? – Nghiên hỏi.

Hãn rút điện thoại, mở bản tin thời tiết, đọc to. Không khí lạnh tăng cường, về miền Bắc đêm mùng ba rạng sáng mùng bốn tháng Ba, trời chuyển rét, khô, đêm trời quang, kéo dài khoảng bốn, năm ngày. Sau đó ẩm trở lại, nồm, mưa phùn.

– Đợt cuối. – Hãn nói. – Sau đợt này là hết mùa.

Ân nhìn lên vách, nhìn những con số phấn trắng, rồi nhìn hai người.

– Thế còn thiếu gì nữa?

– Thiếu cách phơi. – Nghiên nói. – Biết là phơi đêm. Biết là gió bấc. Biết là không được để khô nhanh. Không biết mấy đêm. Không biết trải hay treo. Không biết lật mấy lần, lật lúc nào. Không biết phơi xong ủ ngay hay để se.

– Thử trước mười tờ được không chị?

– Ba trăm năm mươi tờ là hai cối. – Hãn nói. – Một cối khoảng một trăm bảy mươi lăm tờ. Lấy mười tờ thử thì cối thiếu. Cối thiếu thì đập không đều, giấy còn lại cũng hỏng theo.

– Mà có thử cũng không kịp. – Nghiên nói. – Thử thì phải ủ, phải nện, phải đập mới biết đúng sai. Mười mấy ngày. Lúc biết thì gió bấc hết rồi.

Ân im. Nó nhìn chị nó, rồi nhìn anh rể, rồi nhìn ba cái đe.

– Thế là phải đoán đúng ngay lần đầu.

– Ừ. – Hai người cùng nói. Rồi nhìn nhau. Rồi cùng quay đi.

Hai giờ chiều, chú Kế sang.

Chú không đi xe máy. Chú vác trên vai một cuộn bạt xanh to bằng thân cây chuối, đi bộ từ đầu ngõ vào, mồ hôi đầm đìa dù trời không nóng. Chú quăng cuộn bạt xuống thềm, đánh bịch một tiếng, rồi đứng thở.

– Bạt che hàng ở tiệm. – Chú nói, không nhìn ai. – Hai tấm. Bốn mét nhân sáu mét. Chú không dùng nữa.

Hãn đứng ở cửa gian xưởng. Anh nhìn cuộn bạt, rồi nhìn chú.

– Chú mang sang làm gì ạ?

– Mày hỏi ngu thế. – Chú Kế nói. – Phơi đêm thì phải có bạt. Tháng Hai tháng Ba đêm hay mưa bất chợt. Đêm trong vắt mười giờ, hai giờ sáng đổ mưa. Ngày xưa mẹ chú có hai tấm cót to, mưa là kéo cót. Cót mục từ đời nào rồi.

Nghiên đứng ở bậc thềm. Cô nhìn chú Kế. Chú biết. Chú biết là phơi đêm, chú biết là mẹ chú kéo cót. Chú nằm trong bếp những đêm ấy, như ông Tề, như mọi người đàn ông của lò.

– Sao chú biết là phơi đêm ạ?

– Tao là con cụ Gái. – Chú Kế nói. – Tao bị nhốt trong bếp mười mấy năm. Không biết người ta làm gì thì cũng biết người ta làm lúc nào. – Chú ngừng một chút. – Thím mày ngày xưa hỏi tao. Tao bảo tao bị nhốt trong bếp, tao biết gì. Ba mươi năm tao không nghĩ ra cái đêm bị nhốt ấy là cái gì. Hôm nghe ông Nhẫn bảo giấy máy cũng gãy giờ thứ hai, tao mới nghĩ ra.

Bà Ngấn từ hiên sau đi ra, thấy chú Kế, nheo mắt.

– Thằng Kế. Mày mang cái gì sang thế?

– Bạt, chị ạ.

– Bạt làm gì?

– Che mưa cho giấy.

Bà Ngấn đi tới, cúi xuống sờ cuộn bạt, miết ngón tay lên mặt nhựa.

– Cái này không thở được. – Bà nói. – Mưa thì che. Tạnh thì phải bỏ ra ngay. Để lâu giấy nó ngạt.

Chú Kế đứng im. Rồi chú gật đầu, như ngày bé gật đầu với mẹ.

– Vâng.

Chú đi về, không ngồi uống nước. Tới cổng, chú quay lại, nói với Hãn, giọng cộc lốc:

– Đêm nào phơi thì gọi chú. Chú không biết làm giấy. Chú biết kéo bạt.

Chiều, Nghiên vào chái với bà Ngấn.

Bà Ngấn thắp một ngọn đèn. Không hun muội. Chỉ thắp, rồi ngồi nhìn. Nghiên ngồi đối diện. Cô đợi một lúc lâu, rồi cô làm điều cô đã nghĩ suốt đêm qua trên cái ghế nhựa ở Long Biên.

Cô hát.

Giọng cô không hay. Cô hát lệch tông, run ở chữ đầu. Nhưng cô hát đúng cái điệu lên xuống như võng đưa, cái điệu cô đã nghe bà hát đêm cưới, đêm bên chum, sáng mùng tám trong chính cái chái này.

– Ru hời ru hỡi con ơi… Một nước mực khói, hai lời keo trâu… Ba nắng phơi mặt cho lâu…

Cô dừng lại. Cô nhìn bà Ngấn. Cô chờ.

Bà Ngấn nhắm mắt. Môi bà mấp máy. Rồi từ cổ họng bà phát ra một âm thanh, không phải chữ, là tiếng ư ử, trầm, đúng nhịp, đúng điệu. Câu thứ tư. Câu thứ năm. Bà ư ử trọn vẹn cả mấy câu còn lại, tay vỗ nhẹ lên đầu gối theo nhịp. Rồi bà mở mắt.

– Hay. – Bà nói. – Bài này hay.

– U ơi, lời câu bốn là gì ạ?

– Lời gì?

– Câu u vừa ư ử ấy.

Bà Ngấn nhìn cô, ngơ ngác.

– Tao có hát gì đâu. – Bà nói. – Mày hát đấy chứ.

Nghiên cúi đầu. Cô nhìn ngọn đèn dầu lạc. Nó cháy xanh, nhỏ, đứng yên. Cô đã nín thở từ lúc nào không biết.

Tối, Hãn nấu cơm. Ba người ăn. Bà Ngấn ăn hai bát, kể chuyện năm bảy chín về làm dâu, kể hai lần. Ân đã về Hà Nội từ chiều. Hãn và Nghiên nói với nhau đúng những câu cần thiết. Anh hỏi cô ăn nữa không. Cô bảo đủ rồi. Cô hỏi mai anh trực không. Anh bảo Chủ nhật nghỉ.

Chín giờ, bà Ngấn đi ngủ. Nghiên rửa bát ở cầu ao. Hãn ra ngồi ở bậc đá trên cùng, cách cô hai bậc. Anh không nói gì. Cô không nói gì. Nước ao đêm nồm ấm hơn cô tưởng.

– Anh gọi cho bên Quảng Ngãi rồi. – Anh nói, nhìn mặt ao. – Sáng nay. Anh bảo họ đừng để tên anh trong danh sách khi anh chưa ký. Họ bảo được, nhưng họ chờ tới cuối tháng Tư thôi.

Nghiên rửa nốt cái bát.

– Anh không phải báo em.

– Anh biết. – Hãn nói. – Anh báo.

Cô úp cái bát vào rổ. Cô không quay lại. Cô sợ quay lại thì cái giận của cô, cái giận cô đã giữ gìn cẩn thận suốt đêm qua như giữ một ngọn đèn, sẽ tắt.

– Em đi ngủ. – Cô nói.

Cô vào buồng trong. Cô nằm xuống cái giường gỗ lim. Chăn hồng phấn. Mùi gỗ cũ. Mùi khói dầu lạc ngấm vào tường. Cô nằm nhìn lên xà nhà tối om. Ngoài gian xưởng, cái chõng tre kẽo kẹt một lần, rồi im. Cô nghĩ tới con số phấn trắng trên vách. Tám ngày. Cô nghĩ tới tiếng ư ử của bà Ngấn trong chái. Lời đã ở đó, ở ngay đầu lưỡi bà, chỉ là không ra thành chữ. Như một lá vàng nằm trong cối giấy, biết là có, mà chưa mở ra được.

Mười một giờ đêm, điện thoại cô rung.

Viên.

Cô ngồi dậy, bấm nghe. Đầu dây bên kia, trước cả tiếng Viên, là tiếng một đứa trẻ khóc. Khóc khàn đặc, khóc đứt hơi, khóc như đã khóc từ rất lâu.

– Chị ơi. – Giọng Viên lạc đi, run, như người cũng sắp khóc theo. – Cu Mít khóc từ chín giờ tới giờ, em dỗ thế nào cũng không nín. Anh Sỹ đi ca đêm. Bố em uống rượu ngủ say, gọi không dậy. Em không bế nổi nữa chị ơi. Tay em run lắm. Anh Hãn sang bế nó một tí được không chị?

— Hết chương 27 —

Mục lục Làm dâu một năm ở làng vàng quỳ

  1. 1Cái chổi rơm và chén nước chè10 phút
  2. 2Ông kỹ sư nói chuyện bằng con số11 phút đọc
  3. 3Chín điều viết trên giấy kẻ ô10 phút đọc
  4. 4Về Nam Định xin cưới10 phút đọc
  5. 5Đêm rằm tháng Tám ở sân lò9 phút đọc
  6. 6Cô dâu nín thở10 phút đọc
  7. 7Muội đèn và keo da trâu10 phút đọc
  8. 8Gió bấc đầu mùa10 phút đọc
  9. 9Con học tới nước thứ ba rồi10 phút đọc
  10. 10Hai câu sau sáu năm10 phút đọc
  11. 11Thếp vàng năm chín mươi tư10 phút đọc
  12. 12Đứa nào là dâu tao10 phút đọc
  13. 13Nện giấy non10 phút đọc
  14. 14Đêm ở công trường10 phút đọc
  15. 15Một đêm có gối ôm ở giữa10 phút đọc
  16. 16Bốn trăm tờ phơi nắng10 phút đọc
  17. 17Đêm u đi tìm bố10 phút đọc
  18. 18Giỗ bố10 phút đọc
  19. 19Ba trăm chín mươi tờ giấy nứt12 phút đọc
  20. 20Xưởng thuê ở Long Biên12 phút đọc
  21. 21Ông Táo về trời12 phút đọc
  22. 22Tết hai nơi12 phút đọc
  23. 23Lời ông Tề11 phút đọc
  24. 24U biết từ đầu12 phút đọc
  25. 25Hộp đồ của thím Thoan11 phút đọc
  26. 26Lời mời đi Quảng Ngãi10 phút đọc
  27. 27Ba trăm năm mươi tờ trong chum11 phút đọc
  28. 28Thằng cu Mít khóc đêm10 phút đọc
  29. 29Ru hời, mực khói, keo trâu10 phút đọc
  30. 30Bốn đêm sương bấc10 phút đọc
  31. 31Năm ngày búa10 phút đọc
  32. 32Thếp vàng trước hội10 phút đọc
  33. 33Mùng mười tháng Hai10 phút đọc
  34. 34Hợp long10 phút đọc
  35. 35Hai bản thỏa thuận10 phút đọc
  36. 36Thứ Hai, ngày 12 tháng Mười9 phút đọc

Về truyện này

Làm dâu một năm ở làng vàng quỳ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →