Chương 36: Khấc thứ tư
Mẻ nha đầu tiên của năm mới nấu trong cái chảo đồng.
Thằng Thao đứng lò. Không ai biểu nó. Sáng mười bốn tháng Giêng nó dậy từ bốn giờ. Nó đốt cái chảo đồng của ông nội cho nóng già, chà tro, tráng một lớp nha mỏng cho nó "ăn" nha lại. Y như hồi tháng Mười nó làm với cái chảo gang nhỏ, chỉ khác là lần này nó lót tay bằng hai lớp giẻ dày. Hiệp đứng bên cạnh, không đụng tay vào, chỉ đứng coi.
Cái chảo treo trên bếp lò mới xây trong trại nấu hợp tác xã. Đường hàn vàng sáng chạy dọc lòng chảo. Nha sôi trong đó, lục bục, màu hổ phách trong hơn nha nấu chảo gang, như ba Thi hồi xưa vẫn nói. Ông Bảy được dắt tới ngồi ở cửa trại, nghe tiếng nha sôi một lúc, rồi phán:
– Chảo đồng kêu khác. Kêu thanh hơn.
Tết qua nhanh như mọi cái Tết. Mùng một, Thi theo má đi chúc Tết từng nhà trong xóm, đi qua cái lối đi mới trên bức tường cũ trước tiên, chúc bà Năm trước tiên. Bà Năm lì xì cho thằng Thao, cho bé Tôm, rồi dúi vào tay Thi một bao đỏ, nói "con cũng là con nít của bác". Mùng hai, Diễn nhắn một tin từ Tây Nguyên, kèm một tấm hình. Một dãy giường bệnh nhi, mấy đứa nhỏ ngồi trên giường, đứa nào cũng cầm một miếng kẹo gương giơ lên ngang mặt nhìn qua nó như nhìn qua kính. "Tụi nhỏ ở đây chưa ăn kẹo gương bao giờ. Dì Tư gửi nhiều quá, anh chia cả khoa. Chúc mừng năm mới nhà mình." Má coi tấm hình, khóc, rồi cười, rồi đưa cho bà Năm coi. Mùng bốn, Giáng dắt bé Tôm lên phố tỉnh coi trường mới. Về nhà chị kể thầy Lương dẫn đi coi phòng nhạc, phòng nhạc có cái đàn piano cũ, chị ngồi đàn thử một bài, tay quên hết mà vẫn đàn được. Chị kể chuyện cái đàn. Không kể chuyện thầy Lương. Thi không hỏi.
Rằm tháng Giêng. Thứ Ba, ngày ba tháng Ba.
Chiều, trăng chưa lên. Hai nhà dọn cơm chung dưới gốc khế trong sân nhà Thi, cái sân giờ nối liền với vườn nhà bà Năm qua cái lối đi giữa bức tường. Mâm cơm rằm có xôi chè, gà luộc, canh măng, và một đĩa bánh tráng mè nướng. Ông Bảy được mời, ngồi đầu mâm. Giáng với bé Tôm ngồi cạnh bà Năm. Hiệp ngồi cạnh Thi. Má ngồi cạnh bà Năm. Thằng Thao chưa ngồi.
Nó đi vào buồng, lâu. Rồi nó đi ra, hai tay bưng một cái hũ.
Hũ sành nhỏ bằng nắm tay người lớn, men nâu đã mờ. Nắp lót lá chuối khô, buộc bằng sợi lác. Một mảnh giấy học trò cột vào sợi lác, ố vàng, mép quăn như lá trầu héo. Chữ bút bi xanh, nét đậm nét nhạt, chữ "đ" cái nào cũng có đuôi dài:
"Mạch nha chị Hai. Mẻ đầu tay của Thao. Nấu đêm 21-7."
Cả mâm cơm im lại.
Thằng Thao đặt cái hũ xuống giữa mâm, cạnh đĩa xôi. Rồi nó đứng đó, hai bàn tay sẹo buông thõng, không biết làm gì tiếp.
– Chị Hai. – nó nói. – Chị nói đám cưới mới mở. Mà em không chờ được. Em muốn mở bữa nay.
Thi nhìn cái hũ. Mười năm trên nóc tủ lạnh, qua ba chỗ ở. Bốn tháng trong cái tủ đồ của thằng Thao. Đêm đó, trong một cái trại lò đang cháy, trong vòng tay một thằng nhỏ mười hai tuổi không chịu buông.
– Em mở đi. – cô nói. – Của em mà.
Thằng Thao ngồi xuống. Nó cởi sợi lác. Tay nó run, cái nút buộc mười năm đã khô cứng, nó gỡ mãi không ra. Hiệp đưa cho nó cái dao nhíp. Nó lắc đầu, cúi xuống, lấy răng cắn sợi lác. Sợi lác đứt. Mảnh giấy học trò rơi xuống mâm. Thi nhặt lên, đặt cạnh đĩa xôi.
Thằng Thao nhấc tấm lá chuối khô ra.
Bên trong, nha đã không còn màu hổ phách. Nó đã kết lại, trắng đục như sữa đông, mặt nha lấm tấm những hạt nhỏ li ti như đường cát, đặc quánh, không chảy nữa.
– Hư rồi hả anh Hiệp? – thằng Thao hỏi, giọng hoảng.
Hiệp cúi xuống nhìn. Thi cũng cúi xuống. Cô biết cái này. Ở phòng thí nghiệm, cô đã thấy nó trong ống nghiệm cả trăm lần. Mạch nha để lâu, đường trong nha kết tinh lại, nha trắng ra, đặc lại. Không phải hư. Là già.
– Không hư. – Thi nói. – Nó kết lại. Mười năm, nó kết lại thành vầy. Em nếm đi.
Thằng Thao cầm cái muỗng nhỏ, múc một chút, đưa lên miệng. Nó ngậm lại. Nó nhắm mắt.
Rồi nó khóc.
Không khóc to. Nó ngồi đó, ngậm cái muỗng, nước mắt chảy ròng ròng xuống hai bên má, vai rung lên. Má đưa tay ôm lấy đầu nó, kéo vào ngực. Nó để yên trong lòng má, như hồi nó lên bảy.
– Ngọt hông Thao? – má hỏi nhỏ.
– Ngọt má. – nó nói, nghẹn. – Ngọt mà khét. Em nấu lửa lớn quá. Hồi đó em nấu lửa lớn quá.
Thi múc một muỗng. Cô đưa lên miệng. Nha mười năm tan chậm trên đầu lưỡi, ngọt sâu, ngọt dần dần chứ không ngọt gắt. Phía sau có một chút khét, khét hơn nha bình thường, khét của một mẻ nha nấu bằng lửa quá lớn trong cái lò mới chưa quen củi. Và dưới tất cả, cái mùi mộng lúa, như mùi cỏ non, vẫn còn đó. Mười năm vẫn còn đó.
Cô đưa cái muỗng cho Hiệp. Anh nếm. Anh không nói gì. Anh nhìn thằng Thao rất lâu.
Bà Năm là người nếm cuối cùng. Bà cầm cái muỗng, múc một chút xíu, đưa lên miệng, ngậm, nhai chậm bằng mấy cái răng yếu. Cả mâm chờ.
– Lửa lớn. – bà Năm nói. – Mà mộng tốt. Mộng ông Năm ngâm.
Bà đặt cái muỗng xuống.
– Thằng nhỏ mười hai tuổi mà nấu được vầy, là có nghề. – bà nói, nhìn thằng Thao. – Ổng mà còn, ổng cũng nói vậy.
Thằng Thao gục đầu vào vai má, khóc to hơn.
Trăng rằm tháng Giêng lên lúc chạng vạng, to và tròn, màu cam như lòng đỏ trứng vịt muối, treo trên rặng tre bên kia sông. Y như cái đêm rằm tháng Tám ở sân lò, cái đêm bà Năm đứng dậy giữa vòng ghế nói chuyện tiền học.
Ăn xong, ông Bảy gõ cây gậy xuống đất.
– Nghe nói có đứa hẹn thi đánh nha bữa nay. – ông nói. – Tao làm trọng tài. Tao mờ mắt mà tao còn phân biệt được trắng với vàng.
Cả mâm cười. Thằng Thao chùi nước mắt, cười theo, chạy xuống bếp bưng lên một chén nha nấu chảo đồng sáng hôm qua, còn ấm vì má hâm lại.
Thi lấy hai que tre trong túi áo ra. Que cật tre đực, vót tròn, dài hơn gang tay một chút, màu nâu mật. Trên thân một que, gần chỗ cầm, có ba vết khắc ngang.
Hiệp lấy hai que của anh ra. Màu nâu mật y hệt. Không có khấc nào.
Má múc nha vào hai cái chén nhỏ, mỗi chén một cục bằng nhau, đặt trước mặt hai người.
– Đánh đi. – ông Bảy nói. – Ai trắng hơn thì thắng. Không ai được ăn gian.
Hai người quấn nha. Kéo ra. Gấp đôi lại. Xoay ngược. Kéo ra. Gấp lại. Bé Tôm ngồi giữa, mắt mở to, đầu quay qua quay lại như coi đá banh. Giáng ôm con, cười. Má với bà Năm ngồi sát vai nhau, không nói gì, mà hai bà cùng cắn môi y như nhau.
Kéo cho nó ăn gió. Nha ăn gió mới trắng.
Cục nha trong tay Thi chuyển từ vàng trong sang vàng đục, rồi ngà ngà, rồi trắng. Cục nha trong tay Hiệp cũng vậy. Tay anh nhanh hơn, mạnh hơn. Tay cô đều hơn, kéo dài hơn. Năm phút. Mười phút. Mồ hôi rịn trên trán cô dù gió đêm tháng Giêng mát.
– Đủ rồi. – ông Bảy nói. – Đưa đây.
Hai người đưa hai cục nha cho ông. Ông cầm hai cục nha, mỗi tay một cục, đưa lên ngang mắt, ngược ánh trăng. Nheo mắt. Rồi đưa sát hơn. Rồi đưa ra xa. Cả mâm nín thở.
Ông Bảy nhìn rất lâu. Rồi ông hạ hai cục nha xuống.
– Bằng nhau. – ông nói.
– Hả? – bé Tôm la lên. – Bằng nhau là sao ông Bảy?
– Là bằng nhau. – ông Bảy nói. – Bảy mươi chín năm tao coi đánh nha, lần đầu tao thấy hai cục bằng nhau như hai giọt nước. Không ai thắng. Mà cũng không ai thua.
Ông trả hai cục nha lại.
– Vậy thì khắc sao ông? – Thi hỏi.
– Thì khắc cả hai. – ông Bảy nói, như chuyện hiển nhiên nhất đời. – Thằng Hiệp khắc cho mầy. Mầy khắc cho thằng Hiệp. Luật là luật.
Hiệp lấy cái dao nhíp trong túi quần ra. Cái dao nhíp cũ, cán gỗ đã mòn, cái dao của ba anh, cái dao năm anh chín tuổi đã dùng để vót đôi que này. Anh cầm que tre của cô lên, xoay tới chỗ có ba cái khấc. Anh đặt lưỡi dao xuống, ngay dưới khấc thứ ba, cách một khoảng bằng mấy khấc kia cách nhau.
Anh khắc. Một đường ngang, sâu, đều.
Khấc thứ tư.
Anh đưa que cho cô. Rồi anh đưa cái dao nhíp cho cô.
Thi cầm que tre của anh lên. Thân que trơn láng, màu nâu mật, hai mươi hai năm không một vết khắc. Cô xoay que tới chỗ gần chỗ cầm, đúng chỗ anh khắc trên que của cô. Tay cô run. Cô đặt lưỡi dao xuống.
Cô khắc. Đường khắc không thẳng bằng của anh. Hơi nghiêng. Mà sâu.
Khấc thứ nhất.
Cô đưa que lại cho anh. Hiệp cầm cái que, xoay trong tay, ngón cái miết lên vết khắc mới.
– Hai mươi hai năm. – anh nói. – Anh có một khấc.
– Anh không nhớ mấy chuyện anh thắng. – Thi nói. – Anh chỉ nhớ mấy chuyện anh nhường.
Hiệp ngẩng lên nhìn cô. Rồi anh cười, cái cười ngắn, khóe miệng nhích lên, đúng cái cười cô nhớ từ năm bảy tuổi.
Cả mâm vỗ tay. Bé Tôm nhảy lên, đòi chú Hiệp vót cho nó cái que mới để thi với cô Thi. Thằng Thao cười, mặt còn ướt. Má quay đi chặm mắt, nói trăng chói.
Bà Năm cầm cái hũ sành nhỏ lên. Còn hơn nửa hũ nha trắng đục. Bà đặt nó lên cái kệ gỗ dưới mái hiên, chỗ cao nhất, chỗ ánh trăng rọi tới.
Thi ngồi dưới gốc khế, tay cầm đôi que tre có bốn khấc. Hiệp ngồi cạnh cô, tay cầm đôi que tre có một khấc. Hai đôi que đặt cạnh nhau trên đùi hai người, màu nâu mật, bóng lên dưới trăng.
Ở cuối xóm, lò hợp tác xã còn đỏ lửa. Khói bay lên thẳng đứng, trắng mờ trong ánh trăng. Mùi nha theo gió bay khắp con đường đất đỏ, qua cây gòn ở bến, qua cái lối đi giữa bức tường cũ, qua hai cái sân giờ đã là một.
Trên mâm cơm, mảnh giấy học trò nằm cạnh đĩa xôi, chữ bút bi xanh mười năm đã phai mà vẫn đọc được. Thằng Thao cầm lên, gấp làm tư, bỏ vào túi áo, chỗ ngay trên ngực.
— Hết —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe