Chương 35: Ông Táo về trời
– Con cá này con thả nha cô Thi! Con cá này của con!
Bé Tôm ôm cái thau nhôm nhỏ, trong thau có ba con cá chép đỏ bằng ba ngón tay, quẫy nước bắn tung tóe lên áo nó. Nó chạy từ nhà ra bến, chân trần, cái áo len xanh mẹ nó đan mặc lệch vai. Thi chạy theo, la đi chậm thôi con, té bây giờ.
Hai mươi ba tháng Chạp. Sáng thứ Ba. Trời hanh khô, nắng vàng như mật, không có một gợn mây. Gió bấc thổi từ phía núi xuống, lạnh mà khô, hong cái gì cũng mau ráo.
Từ sáng sớm, mâm cúng ông Táo của nhà Thi với nhà bà Năm đã dọn chung trên một cái bàn kê ngay giữa cái lối đi mới trên bức tường cũ. Nửa bàn nằm bên vườn nhà này, nửa bàn nằm bên vườn nhà kia. Không ai bàn trước. Má bưng mâm xôi ra, đặt xuống, bà Năm bưng con gà luộc ra, đặt cạnh. Hai bà đứng nhìn nhau, rồi cười. Thằng Thao đi lấy thêm cái bàn nhỏ cho đủ chỗ.
Cá chép thả ở bến. Bà Năm đứng ở mép nước, khấn mấy câu, rồi bé Tôm nghiêng cái thau. Ba con cá đỏ trượt xuống sông, quẫy một cái, mất hút vào làn nước trong. Thằng nhỏ vỗ tay la lên.
– Con cá về trời hả bà Năm?
– Ừ. Về chở ông Táo lên trời. – bà Năm nói. – Ông Táo lên báo cáo cả năm nhà mình làm gì.
– Báo cáo là sao?
– Là kể. Kể nhà mình năm nay nấu nha, lũ, làm hàng, bán nha, đập tường.
Bé Tôm nghĩ một lúc.
– Vậy ông Táo kể lâu lắm. – nó nói.
Bà Năm bật cười. Thi chưa bao giờ nghe bà cười ra tiếng như vậy.
Mùa kẹo gương là mùa cả xóm sống ngoài sân.
Từ đầu tháng Chạp, trời hanh. Không cần phòng sấy nữa. Giàn tre dựng dọc con đường đất đỏ từ đầu xóm tới cuối xóm, dựng trên sân hợp tác xã, dựng trong vườn nhà ai có chỗ. Phên kẹo phơi kín giàn, mỗi cái kẹo là một tấm gương nhỏ tròn phản chiếu trời xanh. Người đi đường ngang qua, chạy chậm lại, có người dừng xe hỏi mua. Bà Sáu Mít bày một cái bàn trước quán nước, bán lẻ từng hộp, ghi tên khách vào một tờ giấy, cuối ngày đưa cho Giáng.
Đơn vẫn tới. Không còn từng chục, mà từng trăm. Chị Hạnh với khoa nhi đặt thêm lần ba. Học trò cũ của bà Diệp đặt cho cả trường cấp hai họ đang dạy. Mấy anh tài xế xe tải chạy tuyến Bắc Nam ghé hợp tác xã, mỗi người mua một thùng về làm quà. Công ty Nam Đài nhận một tấn nha với hai nghìn hộp kẹo hồi tháng Một, đã bày lên kệ ở mấy cửa hàng của công ty ở Sài Gòn. Hũ nha có cái nhãn giấy kraft với con dấu đỏ, bên dưới một dòng chữ nhỏ: "Nam Đài phân phối".
Phòng thử của hợp tác xã nằm sát chòi văn phòng, một căn phòng nhỏ bốn mét nhân bốn mét, tường gạch, mái tôn có lớp cách nhiệt, nền lát gạch men trắng. Thi xây bằng năm chục triệu. Tờ giấy cam kết trả tiền viết tay hồi tháng Mười, cô xé làm đôi trước mặt Hiệp, nói em không trả anh, em trả cho cái lò. Hiệp không cãi được.
Trong phòng có một cái bàn inox, một cái máy đo độ ẩm loại tốt, không phải loại rẻ. Hai cái máy đo độ ngọt cầm tay. Một cái tủ kính nhiều ngăn đựng hũ mẫu lưu, dán nhãn số mẻ, ngày nấu, người đứng chảo. Ba mươi mốt hũ mẫu lưu Hiệp lội nước lũ lấy về hồi tháng Mười Một nằm ở ngăn trên cùng, có một tấm giấy nhỏ ghi "trước lũ". Trên kệ gỗ ở góc phòng, viên gạch cháy từ bức tường cũ nằm một mình, mặt đen hướng ra ngoài.
Thằng Thao học sổ sách với Giáng mỗi tối. Nó tính nhẩm lẹ thật, Giáng nói không sai. Hồ sơ nhãn hiệu tập thể đã có quy chế sử dụng, xã viên họp bỏ phiếu thông qua hồi đầu tháng Chạp, chín hộ chín phiếu. Bên dịch vụ ở Đà Nẵng đang giúp làm hồ sơ xin văn bản cho phép của tỉnh. Thi đi lên phố tỉnh hai lần, ngồi chờ ở hành lang một cơ quan, nộp giấy, rồi về. Lâu. Mà đang đi.
Bên dịch vụ ở Đà Nẵng cũng gửi về một tờ giấy, chụp lại cái văn bản Cục ghi nhận việc công ty rút đơn đăng ký nhãn hiệu. Ông Bảy biểu Giáng đọc to cho cả xóm nghe hai lần, rồi ông gõ cây gậy xuống đất ba cái, không nói gì.
Buổi chiều hai mươi ba tháng Chạp, cả xóm tất niên ở sân hợp tác xã.
Năm nay không phải mỗi nhà một mâm. Năm nay một mâm dài, kê bằng mấy tấm ván ghép lại dưới gốc mít, trải lá chuối. Mỗi nhà mang một món. Nhà ông Chín mang thịt heo luộc. Nhà ông Ba Lành mang bánh tét. Bà Sáu Mít mang một thùng nước mía. Ông Tám Rẫy từ Đồng Lớn xuống với một bao gạo nếp mới và một giỏ khoai lang. Ông Hai Cò ghé, đậu xe khách ngoài quốc lộ, nói ngồi được nửa tiếng, rồi ngồi tới tối.
Giáng đứng dậy hát.
Không ai biểu. Ông Bảy chỉ nói một câu: "Con Giáng, hồi xưa mầy hát hay nhất trường, giờ còn hát được không?" Và Giáng đứng dậy. Chị không cần đàn. Chị hát một bài dân ca xứ Quảng, bài ru con mà hồi nhỏ ở xóm này ai cũng thuộc. Giọng chị trong, ấm, lên cao mà không vỡ, xuống thấp mà không tắt, bay qua mâm cơm dài, qua mấy giàn kẹo gương đang hứng nắng chiều, ra tới bến sông.
Cả sân im. Bé Tôm ngồi trong lòng bà Năm, há miệng nhìn má nó như lần đầu thấy.
Ở cuối mâm, có một người đàn ông chừng ba mươi lăm tuổi, đeo kính, mặc áo len xám. Thầy Lương, dạy nhạc ở trường mầm non trên phố tỉnh, cái trường Giáng sẽ về dạy sau Tết. Thầy chạy xe máy bốn mươi phút xuống xóm để đưa cho Giáng bộ giáo án với cây đàn phím nhỏ của trường cho mượn tập trước. Giáng mời thầy ở lại ăn tất niên, thầy ngại, rồi ở lại.
Thầy ngồi nghe hết bài. Không cầm điện thoại. Không nói chuyện với ai. Không gắp thức ăn. Chỉ ngồi nghe, hai tay đặt trên đầu gối, cho tới khi Giáng hát xong câu cuối.
Thi để ý. Cô nghĩ Giáng cũng để ý. Vì lúc hát xong, ngồi xuống, Giáng nhìn về phía cuối mâm một giây, rồi quay đi, rồi rót nước mía cho bé Tôm, rót tràn ra ly.
Có những chuyện người ta không cần nói. Thi không nói gì với Giáng. Cô chỉ nghĩ, mười mấy năm nay, chắc đây là lần đầu có một người ngồi nghe chị hát hết một bài.
Mười giờ đêm, xóm tan tiệc.
Lò hợp tác xã nấu mẻ nha cuối cùng của năm. Mẻ này không bán. Mẻ này cả xóm chia nhau ăn Tết, mỗi nhà một hũ, nhà nào cũng có.
Hiệp đứng chảo. Thi ngồi trước miệng lò.
Thằng Thao ở lại tới mười hai giờ, rồi Hiệp đuổi nó về ngủ. Nó cãi một chút, rồi đi, ngang qua cửa trại còn ngoái lại nhìn chị nó với anh Hiệp, cười một cái mà không nói gì.
Còn lại hai người. Nhịp cũ. Anh khuấy. Cô canh lửa. Cái trại nấu bây giờ có ống khói cao có chụp, có mái tôn cách nhiệt, có nắp chảo inox chừa khe khuấy. Không còn mái lá. Không còn tro bay vào nha. Mà mùi thì vẫn vậy. Ngọt, ấm, hơi khét, hơi giống mùi cơm cháy, hơi giống mùi lúa mới.
Gần ba giờ sáng, nha sệt lại. Thi ngồi thẳng lưng lên. Hiệp liếc cô, khuấy nhanh hơn. Cô rút bớt hai thanh củi. Ba giờ hai mươi, anh nhúng đũa cả nhấc lên. Sợi nha kéo dài, vàng óng, đứt, co lên.
– Xuống chảo. – anh nói khẽ.
Hai người múc nha ra thau. Không có thằng Thao, múc lâu hơn. Áo ướt mồ hôi dính lưng. Thau cuối cùng múc xong gần bốn giờ. Hiệp cạo đáy chảo, vét vào một cái chén.
Anh cầm cái chén, đi tới, đưa cho cô.
Thi nhận lấy. Nhưng cô không quấn nha liền. Cô đặt cái chén lên bậc gạch trước miệng lò, nơi than còn đỏ hồng. Cô đứng dậy.
Mái trại nấu thấp. Ánh than đỏ rọi lên mấy cây kèo tre, lên tấm tôn, lên mặt anh. Giống cái đêm đó. Đêm thứ Bảy, hai mươi hai tháng Tám năm 2015, trại lò nhà cô mới xây, mái lá mới lợp còn thơm mùi lá dừa nước phơi khô. Đêm đó cô mười tám tuổi, sáng mai cô đi.
– Anh Hiệp. – cô nói.
– Ừ.
– Hồi đó, đêm đó, anh khắc khấc thứ ba. Anh nói em thắng anh, em đi được, anh thì chưa.
– Ừ. Anh nhớ.
Thi đứng trước mặt anh, gần, gần như trên cái thang tre ở giàn phơi kẹo hồi tháng Mười, gần như trong trại ngâm mộng cái đêm mưa tháng Mười Một. Lần này cô không đếm bước.
– Bây giờ em không đi đâu hết. – cô nói. – Em thương anh. Em nói thiệt. Má biểu em thương ai thì nói thiệt với người ta, đừng bắt ai đứng chờ. Em nói rồi đó. Anh đừng đứng chờ nữa.
Hiệp nhìn cô. Trong ánh than đỏ, Thi thấy mắt anh ướt. Lần đầu tiên từ ngày cô về, cô thấy anh khóc. Không ra tiếng. Chỉ có hai con mắt ướt.
– Anh cũng không đi đâu hết. – anh nói. – Anh đứng ở cái bến này mười năm rồi, Kim. Giờ em về, anh hết đứng.
Anh cúi xuống. Lần này anh là người nhích xuống trước. Cô là người nhích lên.
Môi anh có mùi nha và mùi khói củi. Y như đêm đó. Chỉ khác là đêm đó, bên kia bức tường, tiếng đũa cả của ông Năm Khương ngừng lại một nhịp rồi khua tiếp. Đêm nay không có bức tường. Đêm nay chỉ có tiếng than nổ lách tách dưới cái chảo gang vừa nguội, tiếng gió bấc thổi qua mái tôn, và ở xa, ngoài bến, tiếng một con cá quẫy dưới nước.
Không ai đi.
Rất lâu sau, Thi ngồi xuống trước miệng lò, lấy hai que tre trong túi áo ra, quấn một cục nha vét chảo đã hơi nguội. Hiệp ngồi xuống cạnh cô, lấy hai que tre không khấc của anh ra, quấn một cục khác.
– Thi không? – anh hỏi.
– Rằm tháng Giêng. – Thi nói. – Cả nhà có mặt đủ. Có ông Bảy làm trọng tài. Bữa đó em đánh với anh một ván cho đàng hoàng. Không ai được ăn gian.
Hiệp cười. Ngoài trời, phía đông bắt đầu xám.
— Hết chương 35 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe