Chương 31: Không ai mua thì mình bán
– Hai tấn chín nha. Sáu nghìn hộp kẹo gương đang làm dở. – Giáng đọc. – Bà Hai Nghĩa ở chợ Gò lấy được năm tạ, giá cũ, chín mươi lăm nghìn. Ba lò kẹo đậu phộng trên xã lấy được bốn tạ. Còn lại hai tấn.
– Hai tấn. – ông Chín lặp lại.
Sáng thứ Bảy, cả xóm ngồi trong sân lò, không ai ngồi ghế. Người ta ngồi xổm, ngồi trên bao lúa, ngồi bệt dưới đất. Cái kho sau lưng họ mở toang cửa, mấy chục cái chum sành dán nhãn đứng thành hàng, im lặng như mấy người lính không có trận để đánh.
– Còn cái phạt. – bà Sáu Mít nói nhỏ. – Công ty nói phạt phần thiếu. Phạt bao nhiêu?
– Chưa biết. – Hiệp nói. – Mà phạt thì cũng là phạt hợp tác xã. Không phạt từng nhà.
– Thì hợp tác xã là từng nhà chớ ai.
Không ai trả lời được câu đó.
Thi ngồi trên bậc thềm chòi văn phòng, cái bìa nhựa trên đùi. Cô đã tính suốt đêm. Không có công ty, không có hệ thống bán lẻ, không có kệ hàng hai mét. Chỉ có hai tấn nha, sáu nghìn hộp kẹo, một tháng tới Tết, và chín hộ người.
– Không ai mua thì mình bán. – cô nói.
Người ta quay lại nhìn cô.
– Bán cho ai? – ông Chín hỏi.
– Cho người ăn. – Thi nói. – Không qua công ty. Mình làm nhãn của mình. Mình ghi thiệt. Nha này ai nấu, nấu ngày nào, chảo nào, mộng lúa của ai. Kèm theo cái phiếu kiểm nghiệm của trung tâm tỉnh. Người ta cầm hũ nha lên, người ta biết người ta ăn cái gì. Công ty bán cái chữ Gò Nha. Mình bán cái nha.
– Rồi ai biết mà mua? – thằng Lượm hỏi, không phải giọng cãi, mà giọng hỏi thiệt.
– Em không biết. – Thi nói. – Em biết mấy người. Mỗi người ở đây biết mấy người. Mình bắt đầu từ đó.
Ông Bảy Tửu ngồi trên cái ghế đẩu dưới gốc mít, cái ghế duy nhất có người ngồi. Ông gõ cây gậy xuống đất.
– Con nhỏ nói có lý. Hồi xưa có công ty nào đâu. Ghe bầu ghé bến, người ta xuống nếm, người ta mua. – Ông quay qua thằng Thao. – Thao. Về nhà tao, mở cái rương gỗ dưới gầm giường, lấy cái hộp gỗ nhỏ ra đây.
Thằng Thao chạy đi. Mười lăm phút sau nó quay lại, tay cầm một cái hộp gỗ nhỏ bằng hai bàn tay, nắp trượt, gỗ đen bóng vì tay người cầm. Ông Bảy mở nắp hộp. Trong đó là một con dấu bằng gỗ, cán tròn, mặt dấu hình chữ nhật, mòn vẹt ở mép. Ông lật mặt dấu lên.
Chữ khắc ngược: "Kẹo gương Gò Nha". Bên dưới khắc hình một cái chảo, một làn khói.
– Con dấu của ba tao. – ông Bảy nói. – Khắc năm bốn mươi tám. Năm cái nhãn trong hộp thiếc là in bằng con dấu này. Cả xóm mượn in. Tao giữ tới giờ.
Thi nhìn con dấu. Cái nét móc ở chữ "G", cái đuôi cong ở chữ "h".
– Ông cho tụi con mượn?
– Mượn gì. – ông Bảy nói. – Của chung. Đóng lên nhãn đi. Mực đỏ mua ở chợ Gò, sạp bà Tám bán văn phòng phẩm.
Chiều thứ Bảy, sân hợp tác xã thành một xưởng in.
Thi lên phố tỉnh in năm nghìn tấm nhãn giấy kraft màu nâu nhạt, chữ đen, đơn giản. Mặt nhãn trống một ô vuông ở trên cùng. Bên dưới in mấy dòng: "Mạch nha nấu bằng mộng lúa và nếp, lửa củi. Hợp tác xã Gò Nha, thôn Mạch Thượng, xã Bình Mạch." Chừa chỗ ghi tay: số mẻ, ngày nấu, người đứng chảo. Dòng cuối, chữ nhỏ: "Tên Gò Nha thuộc về cộng đồng làng nghề."
Cái ô vuông trống ở trên cùng, cả xóm đóng dấu bằng con dấu gỗ của ba ông Bảy.
Người ta ngồi thành vòng dưới gốc mít. Bà Sáu Mít nhúng con dấu vào hộp mực đỏ, đóng xuống. Giáng ghi số mẻ, ngày nấu theo sổ mẫu lưu. Má Thi với vợ ông Ba Lành dán nhãn lên hũ. Bé Tôm với mấy đứa nhỏ khác ngồi đếm nắp. Ông Bảy ngồi trên ghế đẩu, nghe tiếng con dấu nện xuống giấy, cộp, cộp, mỗi tiếng ông lại gật đầu một cái, như người nghe nhạc.
Tối thứ Bảy, Thi ngồi ở bàn học cũ, mở điện thoại. Cô soạn một tin nhắn, ngắn, thật: nha của hợp tác xã Gò Nha, ai nấu, nấu ra sao, giá bao nhiêu, kèm hình cái hũ có con dấu đỏ và tờ phiếu kiểm nghiệm. Cô gửi cho mấy người bạn đại học. Gửi cho mấy đồng nghiệp cũ ở phòng thí nghiệm, những người từng ngồi nếm năm chục mẫu kẹo bạc hà với cô. Cô không gửi cho Diễn.
Giáng gửi cho nhóm phụ huynh lớp Chồi, nhóm giáo viên mầm non trong xã. Thằng Lượm gửi cho mấy anh tài xế xe tải chạy tuyến Bắc Nam. Ông Hai Cò nói sẽ nói với khách đi xe.
Sáng Chủ nhật, có mười một đơn. Ba mươi hai hũ nha, mười tám hộp kẹo.
Thi ngồi nhìn con số đó. Hai tấn nha. Ba mươi hai hũ, mỗi hũ nửa ký. Mười sáu ký.
Trưa Chủ nhật, điện thoại cô reo. Một số lạ, đầu số Sài Gòn.
– Thi hả? Chị là Hạnh. Chị làm chung khoa với Diễn. Bữa đoàn y tế ra Bình Mạch, em có gặp chị ở cổng trường mầm non.
– Dạ, em nhớ chị.
– Hồi lũ em đưa Diễn một hũ nha. Nó đem vô khoa, để trong phòng trực. Tụi chị ăn với bánh mì ca đêm, hết sạch trong hai bữa. – chị Hạnh nói, giọng Sài Gòn nhanh như gió. – Tụi chị muốn đặt làm quà Tết. Khoa chị bốn chục người, khoa bên cạnh cũng đòi. Chị tính sơ sơ ba trăm hũ, bốn trăm hộp kẹo. Em bán không?
Thi ngồi thẳng dậy.
– Chị... anh Diễn biểu chị gọi hả chị?
– Không. – chị Hạnh nói. – Nó không nói gì hết. Chị hỏi nó số em, nó đưa, rồi nó nói "chị mua thì mua thiệt, đừng mua cho em vui". Chị nói chị mua vì cái nha ngon, chớ chị không có rảnh mua cho ai vui. Em gửi chị cái giá đi.
Thi cúp máy, ngồi im một lúc lâu. Rồi cô nhắn cho Diễn một chữ: "Cảm ơn anh." Một phút sau, anh trả lời: "Không phải anh. Chị Hạnh ăn nha thiệt. Em ăn cơm chưa?"
Chiều Chủ nhật, má cô nhận một cuộc điện thoại. Một người đàn bà tự giới thiệu là học trò cũ của cô Lư Ngọc Diệp. Bà nói cô Diệp nhắn trong nhóm học trò cũ rằng có một hợp tác xã ở Quảng Ngãi làm nha thủ công, ai mua quà Tết thì mua ở đó. Đơn đầu tiên: hai mươi hũ. Tới tối, nhóm học trò cũ của bà Diệp đặt một trăm mười hũ.
Thứ Hai, đơn tới liên tục. Không nhiều như hệ thống bán lẻ. Nhưng tới. Từng chục, từng chục.
Thằng Thao nhận việc giao hàng. Nó chất hũ nha vào hai cái thùng nhựa buộc sau xe máy, chạy ra ngã ba gửi xe khách ông Hai Cò, chạy lên phố tỉnh gửi bưu cục. Một ngày nó chạy bốn chuyến. Tối về nó ngồi phịch xuống hiên, đếm phiếu gửi hàng, mặt đen nhẻm bụi đường mà cười toe.
Hiệp đứng chảo. Anh không nói nhiều. Anh nhìn cả xóm ngồi đóng dấu, dán nhãn, gói hàng dưới gốc mít. Anh nhìn Thi đi qua đi lại giữa các bàn, cầm điện thoại ghi đơn, cầm bút ghi số mẻ, cầm cuộn băng keo đóng thùng. Cô không nhìn anh. Cô nói với anh những câu công việc, ngắn, gọn, xưng "tôi".
Chiều thứ Hai, ông Bảy Tửu biểu thằng Thao dắt ông xuống chòi văn phòng. Hiệp đang ngồi đó, cộng sổ với Giáng. Ông Bảy ngồi xuống cái ghế nhựa, đặt cây gậy ngang đùi.
– Giáng, con ra ngoài chút. Tao nói chuyện với thằng Hiệp.
Giáng đi ra. Ông Bảy ngồi im một lúc, nghe tiếng con dấu gỗ cộp cộp ngoài sân.
– Hiệp. – ông nói. – Tao nghe con nhỏ nói chuyện với mầy. Nó xưng tôi.
Hiệp không trả lời.
– Mầy đòi nó đưa giấy tờ chứng minh nó không biết. – ông Bảy nói. – Tao hỏi mầy. Mười năm trước, mầy biểu nó đừng gọi nữa. Nó ghét mầy mười năm. Nó có đòi mầy đưa giấy tờ không?
Hiệp ngồi bất động.
– Nó tin cái lời mầy nói, mười năm. Tin cái lời láo. – ông Bảy nói, chậm, từng chữ. – Còn mầy, nó nói thiệt với mầy một câu, mầy không tin được một ngày. Mầy đòi giấy. Mầy làm như người ngoài.
Ông chống gậy đứng dậy.
– Tao già rồi, tao nói vậy thôi. Mầy coi lại cái hũ nha ngoài sân đi. Coi cái dòng chữ cuối trên cái nhãn. Coi ai viết.
Ông đi ra, gọi thằng Thao dắt về.
Hiệp ngồi lại trong chòi. Rất lâu. Rồi anh đi ra sân, tới cái bàn gỗ dưới gốc mít, cầm lên một hũ nha đã dán nhãn. Con dấu đỏ, mực còn tươi. Số mẻ mười chín, ngày mười hai tháng Một, người đứng chảo: Tạ Quang Hiệp. Dòng cuối, chữ nhỏ:
"Tên Gò Nha thuộc về cộng đồng làng nghề."
Tối đó, phòng sấy kẹo. Mười giờ đêm. Thi đứng một mình giữa bốn tầng kệ phên, cầm cây nhiệt kế, đo từng tầng, ghi vào cuốn sổ. Năm mươi. Năm mươi mốt. Bốn chín.
Cửa phòng sấy mở. Hơi lạnh ùa vào. Hiệp đứng ở cửa, rồi bước vào, đóng cửa lại sau lưng cho khỏi mất nhiệt.
Thi không quay lại.
– Kệ thứ ba nóng hơn. – cô nói. – Anh coi giùm cái quạt hút.
Hiệp không coi cái quạt hút. Anh đứng đó, giữa hai dãy kệ, cách cô ba bước, trong cái hơi ấm có mùi bánh tráng mè và nha nóng.
– Kim. – anh nói.
Cô đứng im, cây nhiệt kế trong tay.
– Mười năm anh bắt em tin anh. – Hiệp nói. Giọng anh không lớn, mà mỗi chữ rõ như tiếng con dấu gỗ nện xuống. – Anh nói láo một câu, em tin mười năm. Em không đòi anh cái gì. Em chỉ ghét. Rồi em về, em nói thật với anh một câu, mà anh không tin em được một ngày. Anh đòi giấy. Anh đứng trong cái chòi đó hỏi em có cái gì cho anh coi không, như hỏi một người lạ.
Anh ngừng lại.
– Anh xin lỗi. Không phải cái giọng. Cái nghĩ. Cả cái nghĩ.
Thi quay lại. Mặt cô ướt. Cô không biết từ lúc nào.
– Anh biết rồi hả? – cô hỏi.
– Anh không biết gì thêm hết. Không có giấy tờ nào mới. – Hiệp nói. – Anh chỉ coi lại cái hũ nha. Em nghỉ việc. Em trả nhẫn. Em ngồi đóng dấu cái tên làng lên từng cái nhãn. Em viết cái câu đó xuống dưới cùng. Anh coi bấy nhiêu đó mà còn đòi giấy, thì anh không đáng cho em ghét mười năm.
Thi đặt cây nhiệt kế lên kệ. Cô đi tới. Một bước. Hai bước. Ba bước. Cô đứng trước mặt anh.
– Lần sau anh nghi em. – cô nói. – Anh hỏi em câu thứ hai. Đừng đi Đà Nẵng một mình. Đừng ngồi một mình ở bến.
– Ừ.
– Em hỏi câu thứ hai là anh nói thật. Anh hỏi câu thứ hai là em cũng nói thật. Mình biết nhau vậy mà.
– Ừ. – Hiệp nói. – Anh quên.
Cô đưa tay lên, đặt lên cánh tay trái của anh, chỗ mảng da phỏng. Không làm gì thêm. Chỉ đặt đó. Anh đứng im, như sợ cử động một chút là cô rút tay về.
Trong túi áo cô, điện thoại rung lên. Một lần. Hai lần. Ba lần. Cô không định nghe, nhưng nó cứ rung. Cô rút ra coi. Một số máy lạ.
– Alô.
– Cô Thi. – Một giọng đàn ông, trầm, chậm, ít chữ. – Tôi là Vĩnh. Quách Vĩnh, Nam Đài. Sáng thứ Ba tôi ra Gò Nha. Cô sắp xếp giùm tôi gặp hợp tác xã. Tôi tới một mình.
— Hết chương 31 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe