Chương 30: Ý kiến của người thứ ba
Nhà bà Diệp ở trong một con hẻm nhỏ ở Chợ Lớn, nhà ống hai tầng, cửa sắt kéo, trước cửa có hai chậu kiểng lá xanh mướt. Bà mở cửa, mặc bộ đồ bộ màu tím nhạt, tóc bạc búi gọn, đeo cặp kính lão trễ xuống sống mũi.
– Vô đi con. Cô pha trà rồi.
Phòng khách nhỏ, sạch, một kệ sách cao tới trần. Trên tường treo một tấm hình đen trắng, một người đàn ông trẻ đeo kính, đứng cạnh một cô gái mặc áo dài trắng, cả hai không cười. Thi biết đó là ba má Diễn.
Bà Diệp rót trà vào hai cái tách sứ nhỏ, đẩy một tách qua cho Thi.
– Tối qua Diễn về ăn cơm với cô. – bà nói. – Nó không nói gì. Nó ăn hết hai chén cơm, rửa chén, rồi ngồi coi thời sự. Cô hỏi nó, nó kể. Ngắn thôi. Nó nói con trả nhẫn. Nó nói con về quê làm giấy tờ giữ cái tên làng.
Thi cúi xuống tách trà.
– Con xin lỗi cô.
– Cô không gọi con tới để nghe con xin lỗi. – bà Diệp nói. Giọng bà chậm, rõ, giọng của người đứng trên bục giảng ba mươi năm. – Cô gọi con tới để nói với con hai chuyện. Chuyện thứ nhất. Tối qua cô nói với Diễn một câu. Cô nói: "Con làm đúng." Nó nhìn cô, nó hỏi má nói gì. Cô nói lại: "Con làm đúng." Nó không nói gì nữa. Nó ra ban công ngồi. Lần đầu tiên cô thấy nó ngồi ở đó mà cô không sợ.
Bà nhìn lên tấm hình đen trắng trên tường.
– Chuyện thứ hai. Cái áo dài. – bà nói. – Diễn nói con định gửi trả. Đừng trả. Cô viết trong thư rồi. Cô may cho con, không phải may cho cái đám hỏi. Cô dạy văn ba mươi năm, con à. Cô biết có chữ nào viết ra rồi thì không rút lại được.
Thi ngẩng lên. Mắt cô cay xè.
– Con không biết sao con đáng.
– Con đáng vì con không để thằng con cô sống như ba nó. – bà Diệp nói. – Uống trà đi. Trà nguội là trà chát.
Thi về tới Gò Nha chiều thứ Bảy.
Xóm vẫn vậy, mà không phải vậy. Người ta chào cô, nhưng chào ngắn. Bà Sáu Mít ngồi ở quán nước, thấy cô đi ngang thì cúi xuống lau cái ly đã sạch. Ông Chín đang phơi củi ở sân, thấy cô thì đứng lại, nhìn, rồi quay vào nhà. Cái lạnh đó không phải cái lạnh của người ghét. Là cái lạnh của người không biết mình nên tin cái gì.
Má đứng ở cổng, như ngày đầu cô về.
– Mầy nghỉ việc rồi hả? – má hỏi.
– Dạ.
– Ừ. Vô ăn cơm.
Chỉ vậy. Má không hỏi gì thêm.
Sáng Chủ nhật, Thi tới nhà ông Bảy Tửu trước tiên.
Ông ngồi dưới giàn mướp, chỗ cũ, bình trà trên chõng. Ông nghe tiếng chân, ngẩng lên, nheo mắt.
– Con Thi đó hả?
– Dạ, con đây ông Bảy.
– Ngồi xuống. – Ông rót trà. – Tao nghe hết rồi. Cả xóm nói.
– Dạ.
– Tao không thấy mặt mầy. – ông Bảy nói. – Mắt tao mờ rồi. Mà tao nghe giọng. Bảy mươi tám năm tao nghe giọng người ta mua nha, bán nha. Người nói láo nói nhanh, người nói thiệt nói chậm. Mầy nói chậm. Giọng mầy không phải giọng của đứa đi bán cái tên làng.
Thi cầm chén trà, tay run.
– Ông Bảy. – cô nói. – Con cần mấy cái nhãn kẹo gương của ông. Năm cái nhãn trong hộp thiếc.
Ông Bảy nhìn cô một lúc. Rồi ông chống gậy đứng dậy, đi vào nhà. Lần này ông không lục lọi lâu. Ông biết nó ở đâu.
Năm tấm nhãn nằm kẹp giữa mấy tờ giấy pơ-luya. Giấy vàng ố, mực đỏ in tay đã phai. Chữ "Kẹo gương Gò Nha" uốn lượn kiểu chữ xưa, bên dưới vẽ một cái chảo và một làn khói.
Thi lấy điện thoại, mở tấm hình chụp ba phương án bao bì cô đã chụp lại ở tầng mười hai hồi tháng Mười. Cô đặt điện thoại cạnh tấm nhãn cũ.
Chữ "Gò Nha" trên bao bì của công ty, nét cọ to, màu nâu đỏ. Chữ "Gò Nha" trên tấm nhãn của ông Bảy, mực đỏ in tay. Cái nét móc ở chữ "G", cái đuôi cong ở chữ "h". Giống nhau.
Cậu nhân viên truyền thông đã chụp từng tấm nhãn, mặt trước mặt sau, dưới ánh nắng rọi qua giàn mướp.
– Người ta vẽ chữ theo cái nhãn của ông. – Thi nói. – Chữ của cả xóm từ hồi trước năm bảy lăm. Rồi người ta xin độc quyền nó.
Ông Bảy cầm tấm nhãn lên, đưa sát mắt, như cố nhìn cho ra.
– Hồi đó nhà nào cũng in. – ông nói. – Ông nội mầy in. Ông nội thằng Hiệp in. Tao in. In bằng con dấu khắc gỗ, mực đỏ mua ở chợ. Không ai giành của ai.
– Dạ. Vì vậy mà con cần nó.
Chiều thứ Hai, hợp tác xã họp. Thi xin họp. Hiệp không nói gì, chỉ gật đầu, rồi biểu Giáng đi mời từng hộ.
Chín hộ tới đủ. Bà Năm ngồi ở góc xa nhất. Má Thi ngồi hàng ghế ngoài. Ông Tám Rẫy từ Đồng Lớn xuống, ông Hai Cò cũng tới, đậu xe khách ngoài quốc lộ, đi bộ vào.
Thi đứng giữa sân lò. Cô không có máy tính. Cô có một cái bìa nhựa, trong đó mấy tờ giấy.
– Con nói ngắn. – cô nói. – Công ty Nam Đài nộp đơn xin độc quyền cái tên Gò Nha từ tháng Tư năm ngoái. Đơn dùng tấm hình tay con đánh nha. Con không biết chuyện đó. Con không có gì chứng minh con không biết, ngoài lời con nói. Bà con tin hay không, con không ép. Con chỉ xin bà con một chuyện: đừng để cái tên bị lấy.
Không ai nói gì.
– Có một cách. – Thi nói. – Đơn đã công bố. Trước khi nhà nước quyết định cấp, người ngoài có quyền gửi ý kiến phản đối. Hợp tác xã gửi được. Mình cần chứng minh hai điều. Một, cái tên này là tên của cái gò, của cái xóm, của cả làng nghề. Không phải của một công ty. Hai, cả xóm đã dùng chung cái tên này từ rất lâu, trước tháng Tư năm ngoái nhiều chục năm.
Cô lấy trong bìa nhựa ra mấy tờ giấy, đặt lên cái bàn gỗ.
– Năm cái nhãn kẹo gương của ông Bảy, in trước năm bảy lăm. Chữ "Kẹo gương Gò Nha". – Cô đặt bản chụp xuống. – Hình bao bì công ty làm, chữ "Gò Nha" vẽ theo đúng kiểu chữ trên mấy cái nhãn này.
Ông Chín nhích ghế tới gần. Bà Sáu Mít nghển cổ.
– Bản chụp biên bản họp rằm tháng Tám. Chị Giáng ghi. – Thi nói. – Và cái này.
Cô đặt xuống tờ giấy cuối cùng. Trang một của bản hợp đồng có hai con dấu đỏ.
– Điều hai. "Sản phẩm do Hợp tác xã Gò Nha sản xuất. Tên Gò Nha thuộc về cộng đồng làng nghề." – Cô đọc to, chậm. – Câu này con viết vô. Bà con nghe con đọc bữa Trung thu. Mà người ký bên kia là công ty Nam Đài, có dấu, có giấy ủy quyền. Công ty đã ký một tờ giấy nói cái tên này thuộc về cả làng. Trong lúc công ty đang xin độc quyền nó cho riêng mình.
Ông Bảy gõ cây gậy xuống đất một cái.
– Vậy là tụi nó tự cột tay tụi nó. – ông nói.
– Dạ. – Thi nói. – Con không đem cái này ra để chứng minh con vô tội. Con đem ra vì nó là cái thiệt nhất mình có.
Im lặng. Rồi ông Tám Rẫy đứng dậy.
– Tao bán lúa giống cho lò Gò Nha bốn chục năm. – ông nói. – Ai hỏi lúa đó bán cho ai, tao nói bán cho mấy lò Gò Nha. Có cần tao ký giấy làm chứng thì tao ký.
– Tao chở nha Gò Nha vô Sài Gòn ba chục năm. – ông Hai Cò nói. – Hàng gửi, hàng bỏ mối, tao còn giữ mấy cái phiếu gửi hàng ghi chữ Gò Nha từ hồi tao còn chạy cái xe cũ. Tao đem ra.
– Bà Hai Nghĩa ở chợ Gò mua của tui hai chục năm. – ông Chín nói, giọng còn ngập ngừng. – Bả nói Gò Nha là nói nha của xóm mình. Tui đi hỏi bả.
Ông Ba Lành nói nhà ông còn tấm hình chụp gian hàng hội chợ trên tỉnh năm chín mươi tám, có cái băng rôn vải đỏ "Mạch nha Gò Nha", cả xóm đứng chụp. Bà Sáu Mít nói bả không có gì, mà bả biết ai có, để bả đi hỏi cả xóm, chiều nay có liền.
Thi đứng giữa sân, nghe từng người nói. Cô không nói gì. Cô sợ mở miệng ra là khóc.
Bà Năm vẫn ngồi ở góc xa. Bà không nói gì suốt buổi. Nhưng lúc người ta đứng dậy về, bà đi ngang qua cái bàn gỗ, dừng lại, cúi xuống nhìn tờ hợp đồng có hai con dấu đỏ. Nhìn lâu. Rồi bà đi.
Tối đó Hiệp ra bến. Thi biết anh sẽ ra. Cô cũng ra.
Anh ngồi dưới gốc gòn, không hút thuốc. Cô đứng cách anh ba bước.
– Hôm thứ Hai anh nói nặng. – Hiệp nói, không nhìn cô. – Anh xin lỗi cái giọng.
Thi im một lúc.
– Anh xin lỗi cái giọng. – cô nói. – Còn cái nghĩ?
Hiệp không trả lời.
– Tôi hỏi anh. – Thi nói. – Bây giờ anh có còn nghĩ tôi biết từ đầu không?
– Anh không biết. – Hiệp nói. Giọng anh thấp. – Thằng Thao nói em nghỉ việc. Giáng nói em mang hợp đồng ra họp. Ông Bảy nói giọng em nói chậm. Anh nghe hết. Mà anh vẫn thấy cái hình đó. Tay em. Que của em. Ba cái khấc.
– Anh khắc ba cái khấc đó.
– Ừ. Anh khắc.
– Vậy thì anh chờ tới khi anh biết rồi hãy xin lỗi. – Thi nói. – Tôi không nhận một nửa.
Cô quay về. Cô nghe sau lưng không có tiếng chân đi theo.
Thứ Tư, Thi và Hiệp đi Đà Nẵng.
Bên dịch vụ ở Đà Nẵng soạn xong ý kiến phản đối từ tối thứ Hai, theo những gì Thi gửi qua. Hợp tác xã là bên đứng tên, Hiệp ký với tư cách người đại diện. Phải có mặt để ký giấy ủy quyền cho bên dịch vụ nộp thay. Chuyến xe khách sáu giờ sáng. Hai người ngồi chung một băng ghế vì xe hết chỗ.
Suốt ba tiếng, không ai nói gì. Thi nhìn ra cửa sổ. Hiệp nhìn thẳng ra trước. Khoảng cách giữa hai người trên băng ghế đủ nhét một cái ba lô. Xe ôm một khúc cua gắt, Thi ngả người, vai cô chạm vào vai anh. Cô ngồi thẳng lại ngay. Anh không nói gì.
Văn phòng dịch vụ là hai phòng nhỏ trên tầng ba một căn nhà mặt tiền. Người phụ trách là một anh trẻ, nói giọng Đà Nẵng, đọc lại cho họ nghe từng trang. Danh mục chứng cứ: bản sao hợp đồng có điều hai, bản chụp năm nhãn cũ, hình hội chợ năm chín mươi tám, phiếu gửi hàng của ông Hai Cò. Rồi giấy xác nhận của ông Tám Rẫy, bà Hai Nghĩa, ông Bảy Tửu, và hai chục chữ ký của người trong xóm.
Hiệp ký. Anh ký từng trang, chậm, nét chữ đè mạnh xuống giấy. Ký xong, anh ngồi im, nhìn tờ giấy cuối.
– Nộp rồi thì bao lâu có kết quả? – anh hỏi.
– Cái đó phải chờ Cục xem xét. – anh nhân viên nói. – Em không hứa được ngày. Mà hồ sơ này, em nói thiệt, em ít thấy cái nào bên mình cầm được tờ giấy chính bên kia ký như vầy.
Chiều thứ Sáu, Thi đang ở phòng sấy kẹo thì Giáng chạy xuống, tay cầm một tờ giấy in, mặt tái.
– Thi. Công ty gửi văn bản qua thư điện tử của hợp tác xã. Anh Hiệp biểu chị đưa em đọc.
Thi cầm tờ giấy. Tiêu đề in đậm, có logo công ty ở góc. Cô đọc từng chữ.
Công ty cổ phần thực phẩm Nam Đài thông báo chấm dứt việc thực hiện đợt hai của hợp đồng mua bán ký ngày bảy tháng Mười. Lý do: bên bán không giao đủ số lượng đợt một theo thỏa thuận. Đồng thời công ty bảo lưu quyền yêu cầu bồi thường đối với phần hàng thiếu của đợt một theo điều khoản phạt vi phạm.
Thi đọc xong, ngẩng lên. Qua cửa phòng sấy, cô thấy cái kho của hợp tác xã. Trong đó có gần ba tấn nha đã nấu cho đợt hai, đã dán nhãn, đã có mẫu lưu. Bốn kệ phên kẹo gương đang sấy. Còn đúng một tháng nữa là Tết, mà hàng Tết thì phải lên kệ trước Tết ba tuần.
Không có người mua.
— Hết chương 30 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe