Chương 8: Mùa gặt cuối cùng
Lưỡi dao phát đã cắt vào bàn tay trái của Hảng A Sình một đường từ gốc ngón cái chéo xuống cổ tay. Bà Dế đắp lên đó một nắm lá giã nhuyễn màu xanh thẫm, đắng đến mức Mơ đứng ở cửa đã thấy mùi xộc lên mũi.
– Đi trạm y tế đi anh, – Mơ nói lần thứ ba. – Vết này phải khâu.
Sình nằm trên tấm phản cạnh bếp, mặt xám, mồ hôi rịn trên trán dù trong nhà lạnh. Gã lắc đầu. Bà Dế cũng lắc đầu, nói một tràng tiếng Mông, tay vẫn quấn miếng vải lên vết thương.
Tủa ngồi xổm ở góc nhà, ôm đầu gối. Nó dịch, giọng nhỏ, không nhìn ai:
– Bà con bảo: lá này cầm máu tốt hơn trạm y tế. Bố con không đi, đi thì mất ba ngày công.
Hôm ấy là thứ Hai, ba tháng Mười một. Tủa nghỉ học từ thứ Sáu tuần trước. Ngày đầu không ai báo. Ngày thứ hai Mai mới dò hỏi được là bố nó bị thương trên chỗ làm, cái dao phát trượt lúc đang phát bụi trong lô sâm. Mơ dạy xong buổi sáng, gửi lớp cho thầy Khua trông, đi bộ sang nhà Tủa.
Nhà Tủa ở rìa bản phía trên, chỗ con đường đất bắt đầu rẽ lên lô sâm. Nhà trình tường, mái tôn, cái sân nhỏ lát đá. Trên gác bếp treo lủng lẳng những chùm ngô giống, những dải thịt hun khói. Trong góc nhà chất mấy bao tải đỏ rực. Thảo quả. Mùa này người Lùng Phìn đi hái thảo quả dưới tán rừng già, gùi về từng gùi đỏ au, đem sấy trên những cái lò dựng bằng tre và đất ở bìa rừng. Cả bản mấy tuần nay thơm mùi thảo quả sấy, một mùi hăng hăng, ấm ấm, như mùi quế lẫn mùi khói.
Bà Dế buộc xong miếng vải, rót cho Mơ một bát nước. Bà là người già nhất Mơ từng gặp ở Lùng Phìn. Bảy mươi lăm tuổi, lưng còng gần gập đôi, mặt nhăn như quả táo khô, nhưng mắt sáng, tay nhanh. Bà biết cây thuốc. Cả bản ai ốm cũng đến hỏi bà trước khi xuống trạm y tế. Mai kể bà từng cứu một đứa trẻ bị rắn cắn bằng lá cây gì đó, rồi mới gọi người khiêng xuống xã.
Mơ ngồi xuống cái ghế gỗ thấp. Cô lấy trong túi ra cuốn vở của Tủa, những bài tập mấy hôm nay nó nghỉ, cô đã chép lại sẵn.
– Tủa, con làm bài ở nhà nhé. Cô không bắt con xuống lớp. Bố khỏe thì xuống.
Tủa cầm cuốn vở, không nói gì. Nó lật ra trang đầu, nhìn mấy dòng chữ cô viết. Rồi nó nhìn sang bố.
Sình mở mắt. Gã nói một câu bằng tiếng Mông, giọng khàn, yếu. Bà Dế trả lời. Rồi Sình quay sang Mơ, cố nói bằng tiếng Kinh:
– Cô giáo. Cảm ơn.
– Anh nghỉ ngơi đi ạ.
Sình không nhắm mắt lại. Gã nhìn lên mái tôn, chỗ có một vệt nắng lọt qua lỗ thủng. Mồ hôi trên trán gã chảy thành giọt. Có lẽ gã đang sốt. Có lẽ vì sốt nên gã nói, nói lẫn lộn tiếng Mông tiếng Kinh, như người nói mê.
– Kỹ sư bảo... cạo vỏ. Bôi thuốc cho cây. Cho cây khỏi sâu. – Gã thở. – Cạo vòng quanh. Vòng quanh cái cây. Như cái thắt lưng.
Bà Dế quát khẽ một tiếng. Sình im. Tủa cúi gằm mặt xuống cuốn vở.
Mơ ngồi im. Cô không hiểu hết. Cô nghĩ đến những điều Chiêng kể với cô sau chuyến lên Phìn Pó hồi cuối tháng Mười, kể ngắn, trong lúc ngồi trên bậc cửa lớp học, tay xoay xoay một dải vỏ cây khô: bùn trát quanh thân cây, lỗ sâu, cây non không vàng. Anh kể như người nói với chính mình. Kể xong thì đứng dậy đi, không hỏi cô nghĩ gì.
Cạo vòng quanh. Như cái thắt lưng.
Lúc Mơ ra về, bà Dế tiễn cô ra tận cổng. Bà đi chậm, cái gậy tre gõ lộc cộc trên đá. Đến cổng, bà dừng lại, chỉ tay lên phía núi bên kia thung, nơi có vạt rừng xanh sẫm, rồi nói một câu dài bằng tiếng Mông. Mơ không hiểu. Tủa, đi theo sau, dịch lại:
– Bà con bảo: trên Phìn Pó có cây mẹ. Ngày xưa bà con đi nương, bà con mang cơm lên gốc cây mẹ ngồi ăn. Ông nội con cũng vậy. Bố con cũng vậy. Bà con bảo: cây mẹ còn thì nước suối còn. Cây mẹ mất thì nước suối mất.
Bà Dế nói thêm một câu ngắn. Tủa ngập ngừng.
– Bà con bảo... bà con bảo bố con đừng lên đấy nữa.
Chiều thứ Bảy, tám tháng Mười một, Mơ dạy bù cho Chở như mọi chiều thứ Bảy từ hôm Chở xuống lớp. Hai cô trò ngồi ở cái bàn cạnh cửa sổ, chỗ có tấm nhựa mới thay. Chở đã theo kịp lớp từ tuần trước, nhưng Mơ vẫn dạy, vì Chở muốn, và vì cô thích ngồi với con bé. Chở hỏi những câu mà không đứa nào khác hỏi. Hỏi vì sao chữ "nghỉ" lại có chữ "g". Hỏi cô giáo đi học bao nhiêu năm thì được làm cô giáo. Hỏi dưới xuôi có núi không.
– Không có núi. Chỉ có đồng ruộng. Phẳng lì.
– Thế cô đi lên đâu để nhìn xa?
Mơ nghĩ một lúc.
– Lên đê. Ở quê cô có con đê dài, chạy theo sông Hồng. Đứng trên đê nhìn được xa lắm.
– Có xa bằng ở đây không?
– Không. Ở đây xa hơn.
Chở gật gù, có vẻ hài lòng với câu trả lời.
Học xong thì trời đã chiều. Mơ tiễn Chở đến đầu dốc. Lúc quay lại, cô thấy chiếc xe máy quấn xích dựng ở cổng trường. Chiêng ngồi trên bậc cửa lớp, đúng chỗ anh vẫn ngồi.
– Anh lên lâu chưa?
– Một lúc. Thấy cô đang dạy.
– Sao không vào?
– Vào làm gì. Cô dạy hay mà.
Mơ ngồi xuống cạnh anh. Cô kể chuyện bố Tủa. Cô kể đến câu "cạo vòng quanh, như cái thắt lưng" thì Chiêng quay hẳn người sang. Anh hỏi lại ba lần, lần nào cũng hỏi kỹ: Sình nói đúng chữ "vòng quanh" à? Sình nói bằng tiếng Kinh hay tiếng Mông? Lúc ấy bà Dế phản ứng thế nào?
– Bà quát. Bà bảo anh ấy đừng lên đấy nữa.
Chiêng im. Anh nhìn lên Phìn Pó.
– Đi bộ với tôi một đoạn không? – anh hỏi. – Tôi muốn ra chỗ mỏm đá.
Họ đi ra cái mỏm đá cuối bản, cái mỏm đá to hơn cái mỏm đá sau trường, chỗ nhìn được cả thung lũng. Trời cuối chiều tháng Mười một, sương bắt đầu dâng từ dưới thung lên, trắng như sữa, lấp dần những thửa ruộng bậc thang đã gặt xong, trơ gốc rạ màu nâu. Mùa gặt đã hết. Thửa ruộng cuối cùng của bản, của nhà ông già Lầu A Chư, gặt xong từ hôm thứ Năm. Bây giờ cả sườn núi chỉ còn những bậc ruộng trống, những đống rơm, những con trâu thả rông gặm gốc rạ. Từ mấy lò sấy thảo quả ở bìa rừng, khói bốc lên thành những sợi mảnh, mờ dần trong sương.
– Lúa gặt hết rồi, – Mơ nói. – Lúc em lên, nó còn xanh.
– Ừ.
– Anh bảo lúa chín thì chụp ảnh. Em chưa chụp được tấm nào. Cứ định chụp là lại bận.
– Năm sau chụp.
Cô quay sang nhìn anh. Anh nói câu ấy bình thường, như nói trời sắp tối. Nhưng anh nói "năm sau". Không phải "nếu cô còn ở đây". Không phải "cô thứ tư". Năm sau.
Anh cũng quay sang. Họ đứng gần nhau đến mức cô ngửi thấy mùi trên áo anh: mùi khói, mùi lá rừng, và mùi gì đó rất nhẹ, hăng hăng, như mùi thảo quả. Sương lên đến mỏm đá, bọc lấy hai người, lạnh, ướt, làm cả thế giới bên ngoài biến mất, chỉ còn tiếng một con chim gì đó kêu rất xa. Anh nhìn cô. Cô nhìn anh. Cô thấy một hạt sương đọng trên mi mắt anh. Anh đưa tay lên, chậm, như định gạt một sợi tóc dính trên má cô.
– Cô Mơ ơi! Cô Mơ!
Tiếng Mai, từ phía trường, gọi to, gấp gáp. Chiêng rụt tay lại. Mơ quay đi, mặt nóng ran giữa sương lạnh.
– Cô Mơ! Có thấy con Mỷ đâu không?
Họ chạy về. Mai đứng ở sân trường, tay cầm đèn pin, mặt tái. Mỷ, con bé bốn tuổi em gái Dình, mất tích từ lúc chiều. Bố mẹ Dình đi làm thuê ở bản bên, gửi hai anh em cho Mai trông. Dình bảo em nó đi theo nó ra sau trường, rồi nó mải vẽ, ngẩng lên thì em không thấy đâu.
Chiêng hỏi Dình mấy câu, rồi đi thẳng ra sau dãy nhà công vụ, chỗ có bụi dong riềng, cái bể nước và lối mòn dẫn xuống khe. Mơ chạy theo. Trời đã tối hẳn. Sương dày đến mức đèn pin chỉ soi được vài bước.
Họ tìm thấy Mỷ sau mười lăm phút. Con bé không đi đâu xa. Nó ngồi trong cái gian ngoài của dãy nhà công vụ, cái gian để bàn ghế hỏng, nằm cuộn tròn trên một bao sách cũ, ngủ say, tay ôm một cái gì đó.
Cái hộp gỗ pơ mu của Mơ.
– Nó lấy của cô lúc nào thế? – Mai thở ra, ngồi phịch xuống bậc cửa.
Mơ ngồi xuống cạnh Mỷ. Con bé ôm cái hộp chặt đến mức cô phải gỡ từng ngón tay. Nó cựa mình, mở mắt, nhìn cô, rồi nói bằng tiếng Mông, giọng ngái ngủ. Dình đứng ở cửa, dịch lại, giọng xấu hổ:
– Em con bảo... cái hộp của cô thơm. Giống mùi ở trên núi. Nó nhớ bố mẹ.
Bố mẹ Dình đi làm thuê từ tuần trước. Họ hay đi nương xa, đi làm ở những chỗ trên núi, có khi ngủ lại ở lán. Có lẽ ở những chỗ ấy, con bé quen với mùi pơ mu.
Mơ bế Mỷ lên, đưa cho Mai. Rồi cô cầm cái hộp, mở nắp. Phấn trắng, phấn màu, tập nhãn dán ngôi sao, vẫn nguyên. Miếng nỉ xanh lót đáy đã bong ra một góc nhỏ vì con bé ôm chặt quá. Cô ấn góc nỉ xuống lại, đóng nắp.
Lúc cô quay ra thì Dình vẫn đứng ở cửa. Tay nó cầm một tờ giấy. Nó chìa cho Chiêng. Chiêng soi đèn pin.
Lại là một bức tranh. Lần này Dình vẽ rõ hơn, kỹ hơn, bằng bút chì và hai màu sáp. Một thân cây to, chiếm gần hết tờ giấy. Ở lưng chừng thân cây, chỗ mà nếu là người thì là bụng, Dình tô một dải màu đỏ quấn quanh. Như một cái thắt lưng. Trên dải đỏ ấy, Dình lại tô đè một lớp màu nâu, lem nhem, như ai đó trát lên.
– Đây là gì, Dình?
Dình ngẩng lên nhìn Chiêng, rồi nhìn Mơ, như đang tìm chữ tiếng Kinh cho đúng.
– Cây có thắt lưng đỏ, – nó nói. – Vì cây bị cởi áo ở bụng. Rồi người ta mặc lại áo bằng đất.
— Hết chương 8 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe