AI Truyện
Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn

💞 Ngôn tình

Người đàn ông dưới chân đèo

Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn · Chương 26/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 26: Người đàn ông dưới chân đèo

Ông ấy ngồi trên cái bệ bê tông, đúng chỗ Chiêng vẫn ngồi mỗi đêm hai mươi ba tháng Chạp, lưng còng xuống, hai tay ôm lấy cái túi vải, và mưa bụi đã thấm ướt cả vai áo.

Chiêng dừng xe cách đấy hai chục mét. Anh không xuống ngay. Anh ngồi trên yên xe, máy vẫn nổ, nhìn cái lưng ấy qua màn mưa bụi.

Anh đã không biết vì sao mình lên đây. Năm giờ sáng thứ Hai, anh dậy, mặc áo, dắt xe ra, mẻ hỏi đi đâu, anh bảo đi tuần. Anh không đi tuần. Anh chạy thẳng ra tỉnh lộ, rẽ về phía đèo. Xe đêm từ Hà Nội về đến trung tâm tỉnh khoảng bốn giờ sáng. Xe khách tuyến xã chạy chuyến đầu lúc năm giờ rưỡi, đi qua đèo Pha Lìn khoảng sáu rưỡi. Nếu là anh, anh nghĩ, nếu là anh mười bảy năm không dám đi qua cái đèo ấy, thì lần đầu quay lại, anh sẽ xin xuống ở đấy.

Anh tắt máy. Tiếng máy tắt làm người đàn ông trên bệ bê tông quay lại.

Ông Bảo đứng dậy. Ông đứng dậy chậm, như người già hơn tuổi mình nhiều, tay vịn vào cạnh bệ. Cái túi vải tuột khỏi tay, rơi xuống chân. Ông không nhặt. Ông đứng thẳng lên, nhìn Chiêng, rồi bỏ cái mũ len trên đầu xuống, cầm trong tay. Mái tóc muối tiêu ướt bết vào trán.

Chiêng đi lại gần. Mỗi bước anh nghe tiếng ủng mình lạo xạo trên sỏi ven đường.

Hai người đứng đối diện nhau, cách cái bệ bê tông. Cây sau sau bên cạnh lá đã xanh dày, ướt mưa. Dưới gốc cây, trên hòn đá phẳng, mấy chân hương cũ.

Ông Bảo mở miệng. Không có tiếng nào ra. Ông ho. Một tràng ho dài, khan, gập cả người. Chiêng đứng im chờ. Khi ông ngẩng lên được thì mắt ông đỏ, và ông thò tay vào túi áo ngực, rút ra một tờ giấy gấp làm tư, ướt một góc. Ông chìa ra.

– Tôi viết hết vào đây, – ông nói, giọng khàn đặc. – Tôi sợ tôi không nói được.

Chiêng nhìn tờ giấy. Anh không cầm.

– Bác nói đi, – anh nói. – Cháu nghe.

Ông Bảo nhìn anh. Rồi ông gấp tờ giấy lại, cất vào túi. Ông quay người, nhìn xuống con đường đèo đổ dốc dưới chân, uốn lượn trong mưa bụi, nhìn xuống cái taluy bên phải, nơi những ngọn tre lắc lư.

Và ông kể. Đứng giữa trời, mưa bụi rơi lên mặt, ông kể lại đúng những gì Mơ đã kể. Nhưng từ miệng ông thì khác. Ông kể chậm, có chỗ dừng rất lâu, có chỗ ho, có chỗ chỉ tay. Chỗ kia là cái lán. Chỗ này là cái thanh chắn. Xe tôi đi từ trên kia xuống, đèn pha chiếu thẳng vào chỗ này. Ông ấy đứng ở đây.

Chiêng nhìn theo tay ông. Mười bảy năm anh ngồi ở cái bệ này, nhìn con đường này, tưởng tượng cái xe, cái đèn pha, bố anh. Bây giờ có người chỉ cho anh từng chỗ, bằng ngón tay run.

– Đêm ấy bố cháu mặc gì? – anh hỏi. Giọng anh lạ trong tai chính anh.

– Áo mưa. Áo mưa bộ đội, màu cỏ úa, mũ trùm. – Ông Bảo không ngập ngừng. – Ông ấy cầm đèn pin tay phải. Tay trái ông ấy kéo cái thanh chắn.

Chiêng nhắm mắt lại. Bố anh thuận tay trái. Cả bản Nà Hừ trêu bố anh cầm dao phát bằng tay trái như người ngược đời. Điều ấy không có trong biên bản nào, không có tờ báo nào viết.

– Tôi không xin cậu tha, – ông Bảo nói. – Tôi không có quyền xin. Tôi lên đây để nói với cậu. Để nói với mẹ cậu. Rồi tôi đi đến công an. Tôi đã sống như con chuột mười bảy năm rồi. Tôi không sống thế được nữa.

Ông cúi xuống. Không phải cúi đầu. Ông quỳ xuống, ngay trên nền sỏi ướt, trước cái bệ bê tông, trước cây sau sau, hai tay chống xuống đất.

Chiêng không đỡ ông dậy. Anh đứng im. Anh không biết phải làm gì. Anh nhìn người đàn ông ngoài năm mươi quỳ trên đường đèo, nhìn tấm lưng áo ướt, nhìn đôi bàn tay thợ mộc chống xuống sỏi, một ngón cái cụt mất đầu. Anh nghĩ đến Mơ. Anh nghĩ đến cái bát cơm vỡ làm ba mảnh trên nền gạch. Anh nghĩ đến bố anh, cái cười lệch.

Rồi anh cúi xuống, nhặt cái túi vải ông đánh rơi, phủi bụi.

– Bác đứng lên đi. Bác đang ốm. – Anh nói. – Bác về nhà cháu. Mẹ cháu phải được nghe từ miệng bác.

Bà Ỏn ngồi bên bếp lửa nghe hết, và trong suốt thời gian ấy bà không nhìn ông Bảo lần nào.

Bà nhìn ngọn lửa. Bà nhìn cái nồi nước đang sôi. Bà nhìn đôi bàn tay mình đặt trên đùi, những vết chai ở đầu ngón, vết của người dệt vải. Ông Bảo ngồi cách bà một bếp lửa, trên tấm chiếu mây, chỗ khách ngồi, hai tay đặt lên đầu gối, kể. Chiêng ngồi ở góc. Lần này anh không dịch, vì không cần dịch. Mẻ anh nghe tiếng Kinh được, chỉ nói lơ lớ.

Mơ không lên nhà. Cô đến lúc gần trưa, đi nhờ xe xuống từ Lùng Phìn, chắc ai đó trong bản đã báo. Cô đứng dưới chân cầu thang, dưới gầm sàn, cạnh cái khung cửi. Chiêng nhìn thấy cô qua khe sàn nứa. Cô không ngẩng lên. Cô đứng như thế suốt.

Ông Bảo kể xong thì gian nhà sàn im lặng. Chỉ có tiếng lửa nổ. Tiếng mưa trên mái ngói. Tiếng con gà mái cục cục dưới sân.

Bà Ỏn đứng dậy. Bà đi vào gian trong. Chiêng nghe tiếng chân bà dừng lại trước bàn thờ. Rất lâu. Rồi bà quay ra. Trên tay bà không cầm gì.

– Ông về đi, – bà nói.

Giọng bà không to. Không run. Ông Bảo ngẩng lên nhìn bà.

– Tôi...

– Ông về đi. – Bà Ỏn nói lại, nhìn ra cửa, không nhìn ông. – Ông nói rồi. Tôi nghe rồi. Bây giờ ông về đi. Nhà tôi không có chỗ cho ông ngồi.

Ông Bảo đứng dậy. Ông chắp tay, cúi người, rất thấp, về phía bàn thờ trong gian trong. Rồi về phía bà Ỏn. Bà quay mặt đi. Ông đi ra cửa, xuống cầu thang. Dưới gầm sàn, Mơ chạy đến, đỡ lấy cánh tay bố.

Chiêng đứng ở đầu cầu thang. Mơ ngẩng lên. Lần đầu tiên từ tối thứ Bảy, hai người nhìn nhau. Cô không nói gì. Anh cũng không. Cô dìu bố ra cổng, đi về phía trung tâm xã.

Chiêng quay vào. Mẻ anh đã ngồi xuống bên khung cửi. Bà cầm thoi dệt, nhưng không đưa thoi. Bà ngồi nhìn tấm khăn đang dệt dở.

– Mẻ, – anh gọi.

– Mày đi theo ông ấy đi, – bà nói, không quay lại. – Ông ấy bảo đi công an. Mày đi theo. Người ốm như thế, đi một mình, ngã ở đâu thì ai biết.

Anh Thuận ghi lời khai của ông Bảo trong căn phòng nhỏ ở trụ sở công an xã, từ một giờ chiều đến gần năm giờ. Chiêng ngồi ở ghế băng ngoài hành lang. Mơ ngồi ở đầu kia ghế băng. Hai người không nói chuyện. Thỉnh thoảng có tiếng ông Bảo ho vọng ra qua cánh cửa gỗ.

Ba giờ chiều, ông Khải đến. Chiêng gọi ông từ lúc trưa.

Ông Khải đi dọc hành lang, dừng lại trước cửa phòng, nhìn qua ô kính. Ông đứng nhìn rất lâu. Rồi anh Thuận ra mở cửa, mời ông vào.

Chiêng không được vào. Anh chỉ nghe được tiếng nói qua cánh cửa, lúc to lúc nhỏ. Có một lúc anh nghe giọng ông Khải, khàn, cao lên: "Ông nói lại xem. Tay nào?" Rồi im. Rồi giọng ông Bảo, rất nhỏ. Rồi lâu lắm không có tiếng gì.

Ông Khải đi ra lúc bốn giờ. Ông đi thẳng ra sân, đứng dưới mái hiên, châm thuốc. Tay ông run đến mức phải bật lửa ba lần. Chiêng đi ra đứng cạnh ông.

– Ông ấy nói đúng, – ông Khải nói, không quay sang. – Áo mưa. Tay trái. Cả cái tiếng thanh chắn gãy như pháo. Tao đứng trong lán, tao nghe tiếng ấy mười bảy năm rồi. – Ông rít một hơi thuốc. – Tao chỉ nhớ cái thùng xe màu xanh. Tao không bao giờ nhìn được vào cabin. Đêm ấy tối quá.

– Anh Khải...

– Tao biết mày định hỏi gì. – Ông lắc đầu. – Tao không biết, Chiêng ạ. Tao không biết tao muốn đấm ông ấy hay muốn ngồi xuống với ông ấy. Tao chỉ biết là ông ấy tự đến. Mười bảy năm không ai tìm ra ông ấy, ông ấy tự đến.

Anh Thuận ra lúc năm giờ. Anh nói với Chiêng, giọng công việc: cơ quan công an đã ghi nhận lời khai, sẽ báo cáo lên cấp trên và phối hợp xác minh. Vụ việc năm 2009 là vụ cũ, phải xác minh lại từ đầu. Ông Bảo được đề nghị ở lại địa phương một thời gian để phối hợp làm việc. Ông ấy tự nguyện ở lại. Ông ấy đã giao nộp cho công an một số giấy tờ cũ và một khoản tiền ông ấy nói là tiền công chuyến xe năm ấy.

– Còn ông Lượng? – Chiêng hỏi.

Thuận nhìn anh. Rồi nhìn Mơ đang ngồi ở đầu ghế băng.

– Ngày mai tôi mời ông ấy lên làm việc, – Thuận nói. – Nhưng anh Chiêng, anh phải hiểu. Ông ấy sẽ chối. Không có ai ngoài ông Bảo nói ông ấy có mặt. Lời của một người, về một chuyện mười bảy năm trước, lại là người có trách nhiệm chính. Cái này phải có thêm cái khác.

Ngày hôm sau, Thuận gọi cho Chiêng. Ông Lượng đã lên làm việc, lịch sự, đúng giờ, đi cùng một luật sư. Ông ta nói năm 2009 ông ta buôn nông sản, có thuê nhiều xe, không nhớ hết tên lái xe. Ông ta không quen ai tên Bảo. Ông ta rất tiếc về cái chết của anh kiểm lâm năm ấy. Ông ta đề nghị cơ quan chức năng xem xét động cơ của người tố cáo. Ông ta nói: "Con gái ông ấy có quan hệ tình cảm với con trai nạn nhân, và chính anh kiểm lâm này đang có những cáo buộc thiếu căn cứ với công ty tôi".

– Ông ấy nói như đọc bài, – Thuận nói qua điện thoại. – Ông ấy đã chuẩn bị bài này lâu rồi.

Mưa bắt đầu to từ chiều thứ Ba. Mưa không ngớt suốt ba ngày. Suối Nậm Lìn dâng lên, đỏ ngầu, cuồn cuộn, tràn qua mặt cầu tràn, cắt đứt đường lên Lùng Phìn một buổi. Mơ đã lên lại trường từ sáng thứ Ba, trước khi đường đứt, vì lớp hè của cô bắt đầu vào tuần sau. Ông Bảo ở lại nhà khách của xã, một căn phòng nhỏ ở dãy nhà cấp bốn sau trụ sở, có một cái giường sắt, một cái chăn mỏng.

Tối thứ Tư, Chiêng về nhà muộn. Trời mưa như trút. Đến đầu ngõ, đèn xe anh quét qua một bóng người đang đi ngược ra phía trung tâm xã. Dáng nhỏ, đội nón, khoác áo mưa. Trên tay ôm một cái bọc to, gói trong tấm ni lông.

Anh dừng xe. Bóng người ấy cũng dừng.

– Mẻ, – anh gọi. – Mẻ đi đâu giờ này?

Bà Ỏn đứng giữa mưa, ôm cái bọc ni lông. Qua lớp ni lông ướt, Chiêng nhìn thấy màu đỏ chàm quen thuộc. Cái chăn bông thêu hoa trong buồng mẻ, cái chăn mẻ chỉ lấy ra khi nhà có khách quý.

– Mưa thế này, – bà nói, giọng bình thường như nói chuyện chợ búa, – người ốm phổi nằm cái nhà khách ấy, chăn mỏng như tờ giấy, thì chết.

Bà nhìn con trai. Mưa chảy ròng ròng trên mặt bà.

– Mẻ không tha cho ông ấy, – bà nói. – Mẻ chỉ không để ông ấy chết ở xã mình. Chết ở đây thì mẻ không bao giờ biết được cái gì nữa. Đi. Mày chở mẻ đi.

— Hết chương 26 —

Mục lục Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn

  1. 1Hộp gỗ thơm trong bùn11 phút
  2. 2Khai giảng thiếu một đôi dép11 phút đọc
  3. 3Lớp học trên ruộng bậc thang11 phút đọc
  4. 4Đứa trẻ không nói tiếng Kinh10 phút đọc
  5. 5Trung thu không có đèn ông sao10 phút đọc
  6. 6Nhà sàn ở bản Nà Hừ11 phút đọc
  7. 7Những cây chết đứng11 phút đọc
  8. 8Mùa gặt cuối cùng10 phút đọc
  9. 9Vòng thắt lưng dưới lớp rêu12 phút đọc
  10. 10Biên bản không có chữ ký11 phút đọc
  11. 11Bốn mươi hai cái chăn11 phút đọc
  12. 12Băng giá trên ruộng bậc thang10 phút đọc
  13. 13Đường xuống trạm y tế12 phút đọc
  14. 14Ai lấy tranh của Dình10 phút đọc
  15. 15Tết Mông11 phút đọc
  16. 16Đêm ông Công ông Táo11 phút đọc
  17. 17Bánh chưng bên sông10 phút đọc
  18. 18Người trong cabin10 phút đọc
  19. 19Giao thừa bên xưởng mộc12 phút đọc
  20. 20Hoa mận trắng ở Lùng Phìn10 phút đọc
  21. 21Lời đe doạ không lên giọng12 phút đọc
  22. 22Hội hoa ban10 phút đọc
  23. 23Dình bỏ học11 phút đọc
  24. 24Mưa đầu mùa10 phút đọc
  25. 25Dấu búa dưới lớp nỉ10 phút đọc
  26. 26Người đàn ông dưới chân đèo11 phút đọc
  27. 27Đêm lũ ống11 phút đọc
  28. 28Những khúc gỗ biết nói11 phút đọc
  29. 29Người anh họ10 phút đọc
  30. 30Chuyến xe cuối cùng10 phút đọc
  31. 31Đèo Pha Lìn, lần thứ hai10 phút đọc
  32. 32Lời khai10 phút đọc
  33. 33Bữa cơm hai nhà10 phút đọc
  34. 34Lá đơn chuyển trường10 phút đọc
  35. 35Cây pơ mu con10 phút đọc
  36. 36Mùa lúa chín lại10 phút đọc

Về truyện này

Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →