Chương 19: Giao thừa bên xưởng mộc
Trên ti vi trong nhà, người ta đếm đến "ba", và bố cô vẫn chưa nói thêm được chữ nào.
"Hai." Tiếng đếm vọng qua sân, qua cái nồi bánh chưng đã nguội, lọt vào xưởng qua cái cửa sổ mở hé. "Một." Rồi tiếng pháo hoa trên ti vi nổ lụp bụp như ai rang ngô trong một cái chảo rất to. Ngoài làng, nhà ai đó đốt một chùm pháo hoa thật, ánh xanh ánh đỏ hắt lên mái tôn xưởng mộc, chạy qua mặt bố cô một lượt rồi tắt.
Mơ không ngồi. Cô đứng giữa xưởng, chân dẫm lên lớp mùn cưa dày, hai tay buông thõng. Cô thấy đất dưới chân mình sụt xuống, như trên dốc Đá Trắng, và bên dưới không phải bùn.
– Bố nói lại đi, – cô nói. Giọng cô bình thường đến lạ. – Con nghe không rõ.
Bố cô nhìn cô. Ông không nói lại. Ông đặt tấm ván pơ mu xuống mặt bàn bào, cẩn thận, như người ta đặt một đứa trẻ đang ngủ. Rồi ông kéo cái ghế đẩu thứ hai, cái ghế ông vẫn để cho Mơ ngồi xem ông làm từ hồi cô còn bé tí, đẩy về phía cô.
– Con ngồi xuống. Bố kể. Kể một lần thôi.
Cô ngồi.
– Năm ấy bố có cái xe, – ông nói. – Xe ba tấn, mua lại của người ta, trả góp. Thùng xanh. Bố chạy hàng thuê đường Tây Bắc năm năm rồi, đèo nào cũng thuộc, quán nào cũng quen. Chở xi măng lên, chở hàng nông sản về. Đi một chuyến nửa tháng, về một đêm lại đi.
– Tháng Chạp năm ấy, có một người thuê xe bố. Người ta giới thiệu. Anh ấy ba mươi lăm, ba mươi sáu tuổi, ăn nói nhẹ nhàng, mời bố bát phở, trả tiền trước một nửa. Anh ấy bảo anh ấy buôn bắp cải, muốn chở một chuyến về xuôi trước Tết. Trả gấp ba giá thường.
– Ông Lượng.
– Ừ. – Bố cô gật. – Hồi ấy bố gọi là anh Lượng. Anh ấy ngồi ghế phụ đi cùng, bảo là để trông hàng.
Mơ nhìn tấm ván trên bàn bào. Cô nhớ ra câu bố hay nói. Người xấu thì lần đầu bao giờ cũng nói câu dễ nghe.
– Bố có biết dưới bắp cải là gì không?
Ông im rất lâu.
– Bố đoán. – Ông nói chậm. – Giá gấp ba thì chẳng ai trả cho bắp cải. Bố đoán mà bố không hỏi. Bố cần tiền. Tết. Thằng Tùng mới lên ba, xe còn nợ, con mới vào lớp Một. Bố tự bảo mình: mình chỉ là người lái. Hàng của người ta.
– Đèo Pha Lìn có chốt, – bố cô nói. – Bố biết chốt ấy. Mọi lần bố chở hàng thật thì bố dừng, người ta mở bạt xem, bố đi. Đêm ấy gần mười một giờ. Tối như mực, không trăng. Mưa bụi. Đến cách chốt chừng hai trăm mét thì anh Lượng bảo: đừng dừng. Bố bảo không dừng thế nào được, có thanh chắn. Anh ấy bảo: thanh chắn bằng tre. Bố vẫn định phanh. Thì anh ấy quát. Lần đầu tiên bố nghe anh ấy to tiếng. Anh ấy bảo: đạp ga. Dừng là cả hai đi tù.
Ông nhìn xuống bàn tay mình.
– Bố đạp ga.
Mơ không biết mình đang thở hay không.
– Có một người chạy ra giữa đường, giơ cái đèn pin. Ông ấy mặc áo mưa, cái áo mưa màu cỏ úa, bố nhìn thấy rõ trong đèn pha. Ông ấy không tránh. Ông ấy chạy về phía cái thanh chắn đang dựng lên, kéo nó xuống. Xe bố tông vào thanh chắn, nó gãy, tiếng như tiếng pháo. Rồi có một tiếng khác. Ở bên phải. Như ai lấy cái bao gạo đập vào cản xe. Bố nhìn gương. Cái đèn pin rơi. Bố thấy nó lăn, rồi tắt, ở mép đường.
– Bố có dừng không?
– Bố định dừng. – Giọng ông vỡ ra một chỗ. – Bố nhấc chân. Thì anh Lượng túm lấy vai bố. Anh ấy bảo: nó tự nhảy. Nó nhảy xuống taluy để tránh, nó không sao đâu, kiểm lâm người ta nhanh lắm. Anh ấy bảo dừng lại bây giờ là đi tù, mà người kia cũng có làm sao đâu. Xe nảy một cái ở chỗ cái bệ bê tông, bố nghe thùng xe kêu răng rắc, có cái gì rơi xuống đường. Bố không dừng. Bố chạy đến tận sáng.
Mơ nhìn tấm ván. Rồi cô nhìn bố.
– Chiêng kể anh Khải xuống taluy, gọi bộ đàm, – cô nói, rất khẽ. – Ba tiếng sau mới đưa được bác ấy lên xe.
Bố cô nhắm mắt.
– Bố biết. Bố biết từ hôm ấy. Chiều hôm sau, đến quán cháo quen ở chân đèo Ô Quy Hồ, bà chủ quán bảo trên Pha Lìn có anh kiểm lâm bị xe gỗ đâm chết đêm hai mươi ba. Anh ấy mới ba mươi mấy tuổi. Có con trai mười hai tuổi. Hắn ngồi ăn cháo bên cạnh bố, nghe hết, rồi gọi thêm một bát. Hôm sau nữa bố dỡ hàng ở một cái xưởng ven quốc lộ, người ta trả tiền, bố quay xe về nhà.
Ông đứng dậy. Ông đi đến cái tủ đang mở, lấy ra cái hộp sắt, loại hộp bánh quy ngày xưa, nắp in hình hoa hồng đã tróc sơn. Ông mở nắp, đặt trước mặt cô.
Trong hộp có một xấp tiền cũ, loại tiền polyme in năm hai nghìn lẻ mấy, buộc bằng sợi chun đã cứng như sợi thép. Bên dưới là một mẩu báo cắt vuông vức, đã ố vàng, gấp tư. Mơ không mở mẩu báo. Cô biết nó viết gì.
– Tiền công chuyến ấy, – ông nói. – Chín triệu. Bố chưa tiêu đồng nào. Mười bảy năm.
– Thế tấm ván này...
– Lúc dỡ hàng, người ta bê hết gỗ đi. Còn một tấm kẹt ở góc thùng, dưới mép bạt, chắc người ta không thấy. Bố nhìn thấy cái dấu đốt ở hai đầu. Mũi tên trong tam giác. Anh Lượng bảo dấu ấy là dấu hàng của anh ấy, để người nhận biết hàng nào của ai. – Ông đặt tay lên tấm ván. – Bố giữ lại. Không phải để làm gì. Để bố không quên được. Bố sợ có ngày bố quên.
Ông ngồi xuống. Cái ghế đẩu kêu cọt kẹt.
– Ra Giêng bố bán xe. Mẹ con hỏi, bố bảo bố mệt. Mẹ con tin. Bố mở cái xưởng này. Từ đấy bố không đi qua Pha Lìn nữa, không nghe ai nói chữ Lai Châu. Mười bảy năm bố tưởng bố chôn được nó. Rồi con lớn. Rồi con làm đơn. Rồi con bảo con xin lên đúng Lai Châu.
Mơ nhìn tấm ván, nhìn cái đầu ván bị cưa phẳng, vết cưa đã cũ. Cô hiểu ra trước khi bố nói.
– Cái hộp của con.
– Ừ. Bố cưa một đầu, đóng cho con. – Ông nói rất chậm. – Bố không biết vì sao. Cả tuần con chuẩn bị đi, đêm nào bố cũng ra đây, mở tủ, nhìn tấm ván. Bố nghĩ: con bé lên trên ấy. Nó sẽ đi qua cái đèo ấy. Bố không đi lại được nữa, nhưng gỗ này là gỗ của núi ấy. Bố muốn nó về lại trên ấy. Có ngày nó về lại trên ấy.
– Đáy hộp...
– Cái dấu bố để quay vào trong đáy. Bố không bào đi. Bố không bào được.
Mơ nhắm mắt lại. Cô thấy rõ, như đang cầm trong tay: chiếc hộp nắp trượt khắc chữ "Mơ", miếng nỉ xanh cô cắt từ cái áo khoác cũ, dán keo sữa lót đáy cho phấn khỏi lăn. Cái góc nỉ bong ra hôm con bé Mỷ ôm hộp ngủ, cô đã ấn xuống lại. Cô đã ấn xuống lại mà không lật lên xem.
Và cái hộp ấy, bây giờ, đang nằm trên cái giá gỗ trong căn phòng vách ván ở Lùng Phìn, cách cái bệ bê tông trên đèo Pha Lìn chừng ba mươi cây số.
– Thế sáng nay, cái ảnh...
– Bố không nhận ra luôn. Mười bảy năm, người ta già, người ta béo, người ta mặc áo vest. Nhưng cái cách đứng. Cái cách nghiêng đầu khi bắt tay người khác. Rồi bố đọc tên. – Ông nhìn thẳng vào con gái. – Hắn ta đang ở trên ấy, ngay cạnh con. Đang làm cái việc mà con với cậu ấy đang đi tìm. Con có hiểu vì sao trưa nay bố bảo cậu ấy về không?
Mơ không trả lời. Cô hiểu. Cô hiểu cả cuộc gọi chưa đầy một phút hôm tháng Mười hai. Đừng đi rừng. Cô hiểu cả cái đục rơi xuống nền xi măng đêm đầu tiên cô lên Lùng Phìn, khi mẹ nói với bố rằng ở trên ấy người ta cũng biết gỗ.
– Bố không đuổi cậu ấy vì cậu ấy xa, – bố cô nói. – Bố đuổi vì bố không dám ngồi ăn cơm với con trai người ta. Không dám nhìn cậu ấy gói bánh chưng cho nhà mình. Cậu ấy cúi đầu chào bố. Cúi sâu như thế. Con có biết bố thấy thế nào không?
Cô không biết. Cô chỉ biết cổ họng mình đau như có ai bóp.
– Mẹ có biết không bố?
– Không. Không ai biết. Mười bảy năm chỉ có bố với cái tủ này.
Họ ngồi im. Trên ti vi trong nhà, người ta đang hát một bài hát Tết, tiếng nhạc lọt ra sân, lạc lõng.
– Bố định làm gì? – Mơ hỏi.
Bố cô nhìn cái hộp sắt.
– Bố nghĩ suốt từ tối qua. Bố phải đi khai. Lên công an trên ấy mà khai. Bố nghĩ thế mười bảy năm rồi, năm nào cũng nghĩ, cứ đến tháng Chạp là nghĩ. Rồi bố nhìn mẹ con, nhìn thằng Tùng, nhìn con. Bố đi tù thì nhà này ra sao. – Ông lắc đầu. – Bố hèn, Mơ ạ. Bố hèn mười bảy năm.
– Bố...
– Nhưng bây giờ thì không được nữa. – Ông nói, giọng chắc lại. – Hắn còn đang làm. Con đang ở đấy. Cậu ấy đang ở đấy. Bố không ngồi trong cái xưởng này được nữa.
Ông đưa tay ra, nắm lấy tay con gái. Lần cuối cùng bố nắm tay cô, cô nhớ, là lúc dắt cô qua đường đến cổng trường ngày khai giảng lớp Một. Tay ông thô, ấm, run.
– Bố xin con một việc. Con đừng nói gì với cậu ấy. Chưa. Để bố tự nói. Chuyện này bố phải tự đứng trước mặt người ta mà nói, không phải để con gái bố nói hộ. Bố cần vài hôm. Bố nói với mẹ con trước đã, rồi bố lên.
Mơ nhìn bố rất lâu. Cô nghĩ đến Chiêng ngồi trên cái bệ bê tông trên đèo, đêm hai mươi ba tháng Chạp, nói: bây giờ anh chỉ muốn biết. Muốn biết hắn có quay lại nhìn không.
– Bố có quay lại nhìn không? – cô hỏi.
Bố cô hiểu ngay cô hỏi gì. Ông không hỏi cô sao lại hỏi thế.
– Bố nhìn gương, – ông nói. – Bố thấy cái đèn pin rơi. Bố nhìn cái đèn pin ấy mười bảy năm nay rồi, Mơ ạ. Đêm nào cũng nhìn.
Có tiếng gọi từ trong nhà. Mẹ cô.
– Mơ ơi! Giao thừa rồi, vào thắp hương!
Bố cô buông tay cô. Ông cất tấm ván vào tủ, cất cái hộp sắt, đóng cửa tủ lại. Ông không khóa.
– Con vào đi. Bảo mẹ là bố đau đầu, mai bố ra.
Mơ đứng dậy. Cô đi ra cửa, rồi quay lại.
– Bố. Hôm con đi, bố bảo gỗ tốt, để phấn không mốc.
– Ừ.
– Gỗ tốt thật. Ở trên ấy người ta ai cũng khen.
Bố cô cúi mặt xuống. Vai ông rung lên. Mơ đi ra, khép cửa xưởng lại sau lưng, để ông một mình với cái tủ không khóa.
Cô thắp hương cùng mẹ. Mẹ cô nhìn cô, hỏi bố mày đâu, cô bảo bố đau đầu. Mẹ cô nhìn cô thêm một lúc, cái nhìn của người bán hàng khô ở chợ mấy chục năm. Rồi mẹ quay đi, khấn. Mơ đứng sau lưng mẹ, chắp tay, nhìn những làn khói hương bay lên trần nhà, và không khấn được câu nào.
Cô không ngủ.
Cô nằm trong căn phòng hồi cấp ba, cái giường gỗ xoan bố đóng, dưới chân giường có con dấu chữ "Nghiêm" nung sẫm đen. Cô nằm nghe tiếng pháo hoa thưa dần ngoài làng, nghe tiếng mưa phùn rơi trên lá chuối sau nhà, nghe tiếng ho khan của bố vọng ra từ xưởng, cách một quãng lại một tiếng.
Cô cầm điện thoại. Cô mở tin nhắn của Chiêng. Dòng cuối cùng vẫn là dòng lúc ba giờ chiều: "Anh lên xe rồi. Em đừng giận bố."
Cô gõ một tin. Xóa. Gõ tin khác. Xóa. Mọi câu cô nghĩ ra đều hoặc là nói dối, hoặc là nói thật, mà cả hai thứ ấy cô đều không làm được đêm nay.
Cô nghĩ đến chiếc hộp gỗ trên giá phòng cô ở Lùng Phìn, nắp khắc chữ "Mơ", và cái dấu y hệt nằm úp sấp dưới lớp nỉ xanh, như một con mắt nhắm.
Hai mảnh của cùng một tấm ván. Một mảnh ở trong nhà người chết. Một mảnh ở trong tay con gái người lái xe.
Gần năm giờ sáng, trời bắt đầu xám. Mùng một Tết Bính Ngọ. Mơ ngồi dậy, khoác áo, đi ra sân. Đèn xưởng mộc vẫn sáng. Qua cái cửa sổ mở hé, cô thấy bố ngồi gục đầu trên bàn bào, ngủ, một tay vẫn đặt lên cánh cửa tủ.
Điện thoại trong túi áo cô rung lên.
Chiêng. Gửi lúc năm giờ kém mười.
"Anh đến nơi rồi. Lên thẳng Phìn Pó với anh Khải. Sáu gốc cây, mùn cưa còn mới, thơm cả một góc rừng. Không có vết bánh xe nào. Như là cây tự đi. Anh xin lỗi vì về vội. Chúc em năm mới. Cho anh gửi lời chúc bác trai, bác gái."
Mơ đứng giữa sân, mưa phùn rơi lên màn hình điện thoại, làm nhòe những con chữ. Cô đọc lại câu cuối cùng. Cho anh gửi lời chúc bác trai.
Cô ngẩng lên nhìn cái cửa sổ xưởng mộc, nơi bố cô vẫn đang ngủ gục, và cô không biết sẽ trả lời anh thế nào.
— Hết chương 19 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe