Chương 14: Ai lấy tranh của Dình
– Áo bảo vệ, – bà Chía nói, qua lời Pà dịch, và chỉ tay vào ngực mình, chỗ mà trên những cái áo khoác của công ty Mây Xanh có một dải phản quang màu bạc. – Áo có cái vạch sáng. Ba giờ đêm. Đi qua cổng nhà bà, xuống phía trường.
Mơ ngồi xổm cạnh bếp lửa nhà bà Chía, tay cầm bát nước chè đã nguội. Hôm ấy là thứ Năm, mười tám tháng Mười hai, hai ngày sau đêm băng giá. Anh Thuận, trưởng công an xã, đã lên từ hôm qua, xem cái khoen cửa bị bẩy, chụp ảnh, ghi lời Mơ, ghi lời Mai, hỏi chuyện mấy nhà gần trường. Anh làm việc chậm, kỹ, câu nào cũng hỏi lại hai lần. Anh hứa sẽ xác minh. Rồi anh xuống núi. Từ hôm đó không có tin gì thêm.
Mơ không đợi được. Cô đi hỏi từng nhà.
Bà Chía là người duy nhất thấy. Bà già ngủ ít, đêm nào cũng dậy hai ba lần cho thêm củi vào bếp. Đêm ấy, quá ba giờ một chút, bà nghe chó sủa, ghé mắt qua khe cửa, thấy một người đàn ông đi qua, cao, mặc áo khoác có vạch sáng phản quang, đội mũ trùm đầu, đi nhanh xuống phía điểm trường. Một lúc lâu sau, bà không nhớ bao lâu, lại thấy người ấy đi ngược lên, tay cầm cái gì đó không rõ.
– Bà có nhận ra là ai không ạ?
Bà Chía lắc đầu. Trời tối, người ấy trùm mũ. Chỉ có cái vạch sáng là bà nhớ.
Mơ đi về trường, đầu nóng bừng. Cái vạch phản quang. Cả bản Lùng Phìn, ai có cái áo khoác như thế? Những người làm cho công ty. Mà những người làm cho công ty, đêm hôm ấy ai còn ở trên lô sâm? Lô sâm đã dừng hoạt động từ cuối tháng Mười một. Công nhân đã về hết. Chỉ còn bảo vệ trực lán.
Bảo vệ lô sâm là Lầu A Vư. Chồng Mai.
Cô nghĩ đến cái đêm đầu tiên ở Lùng Phìn, khi Mai đứng trên mỏm đá bảo cô đừng nói với ai cô nghe thấy tiếng máy cưa. Cô nghĩ đến cái vẻ mặt nửa lo nửa giấu của Mai mỗi khi nhắc đến Phìn Pó. Cô nghĩ đến chuyện Mai biết rõ cô có những bức tranh của Dình, biết rõ cô để ở đâu. Và chính Mai là người khóa cửa phòng cô đêm ấy.
Những mảnh ấy ghép vào nhau nhanh đến mức cô sợ.
Chiều thứ Sáu Chiêng lên. Cô kể với anh ở bậc cửa lớp học, giọng nhỏ, hai người ngồi sát nhau. Cô kể chuyện bà Chía. Cô kể chuyện cái áo phản quang. Cô dừng lại ở chỗ bảo vệ lô sâm, không dám nói tên.
– Em nghĩ là Vư, – Chiêng nói thay cô.
– Em không biết. Em chỉ nghĩ là...
Có tiếng cái nồi đặt mạnh xuống bậc thềm. Mơ quay lại. Mai đứng ở đầu hiên, cách hai người chưa đầy năm bước, tay vừa đặt nồi cháo xuống, mặt trắng bệch.
Mơ chưa bao giờ thấy Mai giận. Mai giận không quát. Mai đứng im, hai tay buông thõng, và nói, giọng run nhưng rõ từng chữ:
– Đêm ấy anh Vư ở cổng lô sâm. Cả đêm. Công ty có cái camera ở cổng, quay suốt ngày đêm, ông Trụ lắp để biết ai ra vào. Cô muốn biết anh Vư ở đâu thì cô đi mà xin ông Trụ cho xem.
– Chị Mai, em không...
– Còn cái áo. – Mai cắt ngang. – Áo ấy công ty phát cho cả chục người. Bảo vệ có, công nhân có, người chở hàng có, người nấu cơm cho lán cũng có. Nhà chị có một cái, nhà bà Dế có một cái của anh Sình để lại, nhà anh Tráng bố con Chở cũng có. Cô muốn nghi thì nghi cả bản đi.
Chị quay đi. Đi ra cổng, đi thẳng về nhà, không ngoảnh lại. Nồi cháo vẫn nằm trên bậc thềm, khói bốc lên trong gió lạnh.
Mơ ngồi im. Chiêng cũng im.
– Em sai rồi, – cô nói sau một lúc lâu.
– Ừ. – Chiêng không nói thêm.
Tối hôm ấy Mơ không ngủ được. Cô nằm nghe gió lùa qua những khe vách dán giấy báo, nghĩ đến Mai. Ba tháng rưỡi nay, Mai là người nấu cho cô bữa cơm đầu tiên, dạy cô đọc tên học trò, mang chăn ra mỏm đá cho cô, khóa cửa cho cô đêm Lềnh ốm. Mai là người duy nhất ở Lùng Phìn cô có thể gọi là bạn. Và cô đã ngồi trên bậc cửa lớp học, sau lưng Mai, nghi chồng Mai là kẻ trộm.
Sáng thứ Bảy cô sang nhà Mai từ sớm. Cô mang theo một túi cam, thứ quý nhất cô có, mẹ gửi lên từ dưới xuôi. Cô đứng ở cổng rất lâu. Rồi Vư đi ra, cái áo khoác có vạch phản quang khoác trên vai, chắc vừa trực đêm về. Anh ta thấp, chắc, mặt hiền, mắt hơi lồi. Anh ta nhìn cô một lúc, rồi quay vào gọi vợ.
Mai ra. Mai không cười, nhưng cũng không đuổi.
– Em xin lỗi chị, – Mơ nói. – Em xin lỗi anh Vư. Em nghĩ bậy.
Vư nói gì đó bằng tiếng Mông. Mai dịch, giọng vẫn còn cứng:
– Anh ấy bảo: không sao. Người ta mất đồ thì ai cũng nghi.
Rồi Vư nói thêm một câu dài. Mai dừng lại, nhìn chồng, có vẻ ngạc nhiên, rồi mới dịch tiếp, giọng chậm lại:
– Anh ấy bảo: anh ấy cũng sợ công ty. Từ hồi lô sâm dừng, đêm nào ông Trụ cũng gọi điện hỏi có ai lên không. Anh ấy bảo: có những đêm có xe vào cổng, ông Trụ bảo mở cổng, không được hỏi, không được ghi sổ. Anh ấy không hỏi. Anh ấy cần việc.
Mơ nhìn Vư. Vư nhìn xuống đất.
– Xe gì hả anh?
Vư lắc đầu. Anh ta nói một câu ngắn. Mai dịch:
– Xe tải. Phủ bạt. Đêm tối, không bật đèn pha, chỉ bật đèn gầm. Anh ấy không nhìn biển số. Anh ấy không muốn nhìn.
Mai cầm túi cam trong tay Mơ. Chị đứng thêm một lúc, rồi kéo tay cô vào nhà.
– Vào đây. Chị nấu thắng cố. – Rồi chị nói, giọng mềm lại, mềm như mọi khi. – Lần sau cô nghi ai thì cô hỏi chị trước. Cả bản này chị biết hết.
Tuần ấy, Dình biết chuyện tranh bị mất.
Mơ không định nói với nó. Nhưng bọn trẻ thì cái gì cũng biết. Sáng thứ Hai, hai mươi hai, Dình đến lớp sớm, đứng trước bàn giáo viên, nhìn cái giá trống trong phòng cô qua cửa sổ, mặt méo xệch.
– Tranh của con mất à cô?
– Ừ. Cô xin lỗi. Cô không giữ được.
Dình đứng im một lúc. Mơ tưởng nó sẽ khóc. Nó không khóc. Nó về chỗ ngồi, lấy ra một tờ giấy trắng, cầm bút chì. Rồi nó vẽ.
Nó vẽ suốt giờ ra chơi. Vẽ suốt buổi trưa, không ăn cháo. Vẽ đến chiều. Mơ không bảo nó dừng.
Lúc tan học, nó đặt lên bàn cô ba tờ giấy.
Tờ thứ nhất: ba người đội đèn trong đêm, đứng dưới một cái cây to. Giống tờ đầu tiên, nhưng rõ hơn. Bây giờ cô nhìn thấy cả cái dao trong tay người đứng sát thân cây. Và cái mũ lưỡi trai của người ấy, Dình tô màu cam, kỹ đến mức thấy cả cái vành bạc màu.
Tờ thứ hai: cây có thắt lưng đỏ, lớp đất nâu trát lên, giống như tờ trước. Nhưng lần này, ở bên cạnh, Dình vẽ thêm một cái cây đã đổ, nằm ngang, và hai người đang cưa nó thành từng khúc.
Tờ thứ ba thì cô chưa từng thấy. Một con đường đất ngoằn ngoèo, hai bên là những cái cọc tre và tấm lưới đen, chắc là lô sâm. Trên đường có một chiếc xe tải. Thùng xe phủ bạt. Đèn pha không bật, chỉ có một vệt sáng nhỏ ở dưới gầm xe. Đứng cạnh xe là một người đàn ông, quay lưng, không thấy mặt. Người ấy đội mũ trùm đầu. Trên lưng áo người ấy, Dình vẽ một vạch ngang, tô bằng bút chì bạc, loại bút nhũ cô cho cả lớp dùng để vẽ thiệp hai mươi tháng Mười một.
– Dình thấy cái này lúc nào? – Mơ hỏi, giọng khô khốc.
Dình nghĩ một lúc lâu.
– Hôm bố mẹ con đi làm ở nương trên. Con ngủ lán. Đêm con dậy đi tè. Con thấy. – Nó giơ ngón tay đếm. – Lâu rồi. Lúc chưa có băng.
Mơ cẩn thận gấp ba tờ giấy lại. Lần này cô không để trên giá. Cô chụp ảnh cả ba tờ bằng điện thoại, ra mỏm đá gửi cho Chiêng, rồi cất ba tờ giấy vào trong vỏ gối, ngủ đè lên.
Tối ngày hai mươi tư, Chiêng gọi điện. Giọng anh mệt.
Anh kể chủ tịch xã, ông Lò Văn Nghiệp, mời anh lên nói chuyện. Ông Nghiệp không quát, không ép. Ông chỉ rót trà, hỏi han, rồi nói: dự án sâm của Mây Xanh là dự án lớn nhất xã từ trước đến nay, tạo việc cho hơn ba chục lao động, tỉnh đang theo dõi. Chuyện cây pơ mu thì đã có hồ sơ, đã dừng tận thu, cơ quan chức năng đang xác minh. Nhưng ông mong cậu kiểm lâm địa bàn đừng "làm to" khi chưa có kết luận, đừng để bà con hiểu nhầm là xã không chào đón nhà đầu tư. Ông bảo: bây giờ người ta đang nói xã mình đuổi nhà đầu tư đi đấy, Chiêng ạ.
– Ông ấy không xấu, – Chiêng nói. – Ông ấy lo cho xã. Ông ấy sợ mất dự án thật.
– Còn anh Khải?
– Anh Khải bị trên Hạt gọi lên hỏi. Hỏi vì sao chưa có kết luận mà đã dừng tận thu. Anh Khải bảo: vì chưa có kết luận nên mới dừng. – Chiêng cười khẽ. – Anh Khải gan hơn anh tưởng.
Ngày hai mươi bảy, Lềnh về.
Anh Chu chở con trên xe máy, thằng bé quấn kín trong chăn, đội mũ len, chỉ hở hai con mắt. Nó gầy đi trông thấy, nhưng mắt sáng. Bọn trẻ ùa ra cổng. Lềnh tụt xuống xe, đi thẳng vào lớp, đến chỗ ngồi của mình, sờ cái bàn, rồi quay ra nhìn cô giáo, cười. Răng cửa nó mới rụng một cái.
Anh Chu đứng ở cổng, nói gì đó với Mai. Mai dịch:
– Anh ấy bảo: bác sĩ trên tỉnh nói nếu đến muộn hai tiếng nữa thì không cứu được. Anh ấy bảo: anh ấy nợ cô giáo với anh Chiêng một mạng.
Mơ lắc đầu. Cô không biết nói gì. Cô ôm Lềnh, ôm cái thân hình bé xíu trong lớp chăn, và nghĩ đến bàn tay nhỏ thò ra nắm vạt áo cô giữa con dốc đóng băng.
Ngày cuối cùng của năm, ba mươi mốt tháng Mười hai, Mơ ra mỏm đá lúc chiều tối để gọi về nhà chúc năm mới sớm. Vừa có sóng thì điện thoại rung lên. Tin nhắn của Hiên, gửi từ trưa.
"Chị Mơ ơi, chị bảo anh Chiêng xem cái này đi. Sáng nay trên trang của xã. Em sợ anh ấy buồn."
Kèm theo là một tấm ảnh chụp màn hình. Trang thông tin của xã Nậm Lìn. Một bài đăng ngắn, có ảnh: ông Lượng, áo vest, cà vạt, bắt tay ông Nghiệp trước trụ sở xã, sau lưng là một tấm bảng to bằng xốp. Mơ phóng to. Công ty Nông lâm Mây Xanh ủng hộ hai trăm triệu đồng cho quỹ "Tết ấm cho hộ nghèo" xã Nậm Lìn.
Bên dưới, bài viết cảm ơn "tấm lòng của doanh nghiệp luôn đồng hành cùng địa phương", và kết thúc bằng một câu mà Mơ đọc đi đọc lại đến khi sóng mất:
"Xã mong rằng, trong năm mới, mọi hiểu lầm sẽ được hóa giải, để doanh nghiệp yên tâm gắn bó lâu dài."
— Hết chương 14 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe