Chương 34: Lá đơn chuyển trường
Mẹ cô đứng giữa sân điểm trường Lùng Phìn, tay xách đôi dép, chân đất, bùn vàng dốc Đá Trắng bám lên đến tận bắp chân, và câu đầu tiên bà nói là:
– Trời đất ơi. Mày đi con đường này mỗi tuần à?
Hôm ấy là thứ Ba, mười một tháng Tám. Lá đơn chuyển trường vẫn nằm trong phong bì trắng, trong túi áo khoác của Mơ, chưa ký.
Tối hôm trước, ngồi trong buồng nhà bà Ỏn, Mơ đã cầm lá đơn rất lâu. Cô đọc từng dòng. Tên trường bên kia sông. Bảy cây số. Đi xe đạp cũng được. Cô nghĩ đến những buổi chiều đứng trên đê, nhìn sông Hồng rộng mênh mông không có núi chặn. Cô nghĩ đến mẹ ốm không ai bưng bát cháo. Cô nghĩ đến bố, ho khan mỗi sáng, đang chờ cơ quan điều tra gọi mà không biết bao giờ.
Mẹ cô ngồi bên cạnh, không giục. Đến lúc Mơ ngẩng lên, mẹ chỉ nói:
– Mai mẹ lên trường mày. Mẹ muốn xem.
Bây giờ mẹ cô đứng giữa sân, nhìn quanh. Nhìn dãy nhà vách ván mái tôn. Nhìn cột cờ tre. Nhìn cây đào già vặn mình ở góc sân. Nhìn cái mỏm đá sau trường, chỗ duy nhất có một vạch sóng. Nhìn dãy núi bên kia thung, nơi rừng Phìn Pó xanh sẫm, và ở mép trên cùng, chỗ rừng chạm mây, một cái tán cây to vàng úa giữa một biển xanh.
Bọn trẻ đã biết mẹ cô giáo lên. Chúng đứng sau hàng rào nứa, mười mấy cái đầu, thụt xuống, rồi từ từ nhô lên, từng cái một. Mơ nhìn chúng, nhớ ra cái buổi chiều ngày ba mươi tháng Tám năm ngoái, cô đứng ở đúng chỗ này với cái vali gãy bánh, giơ tay vẫy, mười mấy cái đầu thụt xuống.
– Học trò con đấy mẹ ạ.
Mẹ cô nhìn chúng. Rồi bà làm một việc mà Mơ chưa từng thấy bà làm với ai: bà giơ tay vẫy.
Mười mấy cái đầu thụt xuống. Rồi Tủa nhô lên trước, vẫy lại. Rồi Lềnh. Rồi Pà. Rồi cả bọn ùa vào sân.
Mơ dẫn mẹ đi xem lớp. Lớp hè đã kết thúc từ cuối tháng Bảy, chín đứa trẻ năm tuổi giờ đã nói được những câu tiếng Kinh ngắn, đọc được bảng chữ cái, viết được tên mình. Phòng học trống, sạch, bàn ghế xếp ngay ngắn. Mẹ cô đi giữa hai dãy bàn. Bà dừng lại ở một cái bàn, cúi xuống, nhìn mặt dưới. Một con dấu nhỏ đục bằng mũi đục. Chữ "Nghiêm".
– Bố mày đóng à?
– Bố sửa ạ. Hai mươi cái.
Mẹ cô sờ tay lên chữ "Nghiêm" khắc dưới mặt bàn. Sờ rất lâu. Rồi bà đứng thẳng dậy, nhìn ra cửa sổ, cái ô cửa thứ tư có tấm kính mới lắp. Ngoài sân, Tủa đang khoe với Lềnh cái cầu tạm bắc qua nhánh suối, ông thợ mộc với nó làm.
Mai mời cơm trưa. Thắng cố, mèn mén, rau cải mèo luộc. Mẹ cô ăn mèn mén, nghẹn, phải chan canh. Vư đưa ống nước suối. Mai xới thêm. Mẹ cô ăn hết hai bát, cả nhà Mai nhìn bà ăn, gật gù, như thể đó là một thành tích. Mơ ngồi cạnh, nhìn mẹ, và lần đầu tiên từ Tết, cô cười thành tiếng.
Chiều, Chở đến. Con bé đã cao hơn hồi đầu năm học trước một chút, tóc tết gọn, mặc áo đồng phục mới nhận ở trường chính. Năm học tới Chở xuống trường chính học lớp Bốn, ở bán trú. Con bé đến để chào cô giáo trước khi xuống. Nó đứng trước mặt mẹ Mơ, cúi đầu, nói bằng tiếng Kinh, rõ từng chữ, như đã tập nhiều lần:
– Con chào bà. Con là Chở. Cô Mơ dạy con. Sau này con làm cô giáo.
Mẹ cô nhìn con bé mười tuổi, rồi nhìn con gái mình, rồi quay mặt đi, lấy vạt áo chấm mắt, bảo bụi.
Tối hôm ấy, hai mẹ con ngủ chung cái giường hẹp trong phòng công vụ. Gió lùa qua những khe vách ván, giấy báo dán vách phồng lên xẹp xuống như phổi một con vật đang thở. Ngoài kia, tiếng nhánh suối sau lũ vẫn chảy rì rầm. Mơ nằm nghe tiếng mẹ thở, biết mẹ chưa ngủ.
– Mơ, – mẹ cô gọi.
– Dạ.
– Mẹ mang cái đơn lên không phải để bắt mày ký.
Mơ quay sang. Trong bóng tối, cô chỉ thấy đường viền khuôn mặt mẹ.
– Mẹ mang lên để mày có đường lui, – mẹ cô nói. – Người ta đi đâu cũng phải có đường lui. Mẹ sợ mày không có. Mẹ sợ một ngày mày muốn về mà không có chỗ về.
– Con có chỗ về mà mẹ. Nhà mình.
– Ừ. – Mẹ cô im một lúc. – Mẹ biết rồi. Mẹ biết từ lúc thấy bọn trẻ ùa vào sân gọi cô, từ lúc cái con bé Chở đứng chào mẹ. Ở dưới quê không đứa nào gọi mày như thế.
Mơ không nói gì. Cô thò tay vào túi áo khoác treo đầu giường, rút cái phong bì ra. Cô cầm nó trong tay, trong bóng tối.
– Con không ký đâu mẹ.
– Ừ.
– Con xin lỗi mẹ.
– Xin lỗi cái gì. – Mẹ cô cầm lấy cái phong bì khỏi tay cô. Rồi mẹ ngồi dậy, khoác áo, đi ra cái bếp chung của điểm trường, nơi than trong bếp vẫn còn đỏ từ bữa tối. Mơ đi theo. Mẹ cô ngồi xổm trước bếp, mở phong bì, rút tờ đơn ra, nhìn nó dưới ánh than hồng một lúc. Rồi bà đặt nó lên than.
Tờ giấy cong lên. Đen dần từ một góc. Rồi bắt lửa. Ngọn lửa nhỏ, vàng, liếm qua tên cô, tên trường bên kia sông, cái chỗ ký tên còn trống.
– Mẹ mang lên để mày xé, – mẹ cô nói, nhìn ngọn lửa. – Mày không xé thì mẹ đốt.
Bố mẹ cô và Tùng về xuôi sáng thứ Năm. Chiêng chở ra trung tâm tỉnh. Trước khi lên xe, mẹ cô ôm Mơ thật chặt, rồi ôm Hiên, rồi đứng trước mặt Chiêng một lúc, rồi kéo đầu anh xuống, gõ một cái vào trán anh, như gõ vào đầu thằng Tùng.
– Cậu làm nó khóc thì cậu biết tay tôi.
– Vâng ạ.
– Cái nhà sàn chín bậc cầu thang ấy, cậu làm thêm cái tay vịn. Tôi già rồi, lên xuống khó.
– Vâng ạ.
Bố cô không nói gì. Ông chỉ bắt tay Chiêng, rất chặt, rất lâu. Rồi ông ôm con gái. Ông thì thầm vào tai cô: cái hộp, con giữ nhé. Rồi ông lên xe.
Cuối tháng Tám, nhiều chuyện đến cùng một lúc, như những dòng suối nhỏ đổ về một con suối.
Sáng thứ Hai, mười bảy, trưởng bản Sính gọi cả bản đến nhà văn hóa, cái nhà văn hóa đã lợp lại mái. Tổ bảo vệ rừng của bản nhận khoán thêm người. Mười hai người đàn ông đã từng làm công trong lô sâm, những người tháng Mười một năm ngoái ngồi dựa vách lớp học của Mơ, mắt nhìn xuống sàn, bây giờ ngồi ở hàng đầu. Người thứ nhất ký tên vào danh sách tổ là Hảng A Sình. Gã đã về từ đầu tháng Tám, sau khi nghe tin ông Trụ bị bắt. Gã đã xuống công an xã, ngồi với anh Thuận cả buổi chiều, kể lại những gì gã đã kể bên bếp lửa nhà trưởng bản đêm mùng hai Tết Mông. Lần này gã ký tên dưới lời khai. Mười một người kia cũng xuống, từng người một, trong tuần ấy. Mười hai chữ ký.
Mơ đứng ở cửa nhà văn hóa, nhìn Sình cầm bút ký tên vào danh sách tổ bảo vệ rừng, bàn tay trái có vết sẹo trắng chạy chéo từ ngón cái xuống cổ tay. Tủa đứng cạnh bố, ngẩng mặt nhìn bố ký, mặt rạng rỡ.
Anh Pấng thì vẫn chờ. Chờ cơ quan điều tra gọi, chờ người ta quyết định phần trách nhiệm của anh. Cái xe tải xanh lục còn bị tạm giữ, khi nào được trả thì bán. Nợ ngân hàng, nợ ngoài, Chiêng với bà Ỏn góp, trả dần từng tháng. Nhung xin vào làm ở hợp tác xã dệt lanh của xã. Thằng Tòng ban ngày sang nhà bà Ỏn, ngồi dưới gầm sàn xem bà dệt khăn, gọi Chiêng là chú, gọi bà Ỏn là bà. Nó đã biết thổi cái còi đồng của ông Sẳng đến mức cả bản Nà Hừ phải bịt tai.
Hiên tốt nghiệp. Cô nộp đơn xin dạy hợp đồng ở điểm trường Pá Hạ, cái điểm trường có cô giáo trẻ ba tháng không được về nhà. Hiên bảo em học sư phạm để về đây dạy, chứ không phải để đi đâu cả. Rồi Hiên nháy mắt với Mơ: em về rồi, có người trông anh Chiêng hộ chị.
Thứ Bảy, hai mươi hai tháng Tám, buổi chiều, có một chiếc xe khách nhỏ dừng ở ngã ba trung tâm xã. Từ trên xe bước xuống một người đàn bà gầy, đội mũ lưỡi trai, mặc áo khoác công nhân, tay xách một cái túi du lịch to. Người đàn bà ấy đi nhờ xe máy của một người bản Lùng Phìn lên núi, và lúc bốn giờ chiều thì đứng ở cổng điểm trường.
Pà đang ngồi dưới gốc đào, đọc truyện cho Mỷ nghe. Mỷ đã về từ tuần trước cùng bố mẹ.
Pà ngẩng lên. Con bé nhìn người đàn bà ở cổng. Nó không chạy. Mơ đứng ở hiên lớp, thấy con bé đứng dậy, đặt cuốn truyện xuống ghế, phủi váy, rồi đi. Đi chậm. Đi thẳng. Như người lớn.
Chị Lia buông cái túi du lịch xuống đất.
Pà đến trước mặt mẹ. Con bé ngẩng lên. Rồi nó nói, bằng tiếng Kinh, rõ ràng, chắc nịch như mọi câu nó nói:
– Mẹ về rồi. Con không chạy theo xe nữa. Con lớn rồi.
Rồi con bé ôm lấy mẹ. Và chị Lia quỳ xuống giữa cổng trường, ôm con, khóc to như một đứa trẻ. Còn Pà thì không khóc. Pà hát. Hát khẽ, vào tai mẹ, bài hát ru có con chim về tổ.
Tối hôm ấy, chị Lia ngồi bên bếp nhà bà Chía với Mơ, con bé Pà ngủ gục trên đùi mẹ. Chị kể bằng thứ tiếng Kinh lẫn tiếng Mông, Mai ngồi bên dịch những chỗ khó. Chị đã nghỉ việc ở khu công nghiệp. Chị đã trả gần hết nợ. Chị đã đọc lá thư của Pà ba mươi lần, đọc đến đoạn con mèo tên Lia thì cả phòng ký túc xá tám người cùng khóc. Chị xin vào hợp tác xã dệt lanh của xã, chỗ Nhung làm, người ta nhận. Lương ít hơn dưới xuôi một nửa.
– Ít thì ít, – chị nói, vuốt tóc con. – Ở dưới ấy tiền nhiều mà con không gọi mẹ là mẹ. Ở đây tiền ít mà tối nào cũng được nghe con hát.
Bà Chía ngồi bên bếp, se lanh, không hiểu tiếng Kinh, nhưng gật đầu. Ngoài cửa, trên con đường đất dẫn về điểm trường, đèn pin của ai đó lắc lư đi qua, và tiếng một điệu khèn ngắn vọng lại từ cuối bản, rồi tắt.
Mơ về đến phòng thì điện thoại đặt trên bậc cửa sổ rung lên, cái chỗ thỉnh thoảng bắt được sóng chập chờn. Tin nhắn của Chiêng.
"Thứ Bảy tuần sau Hạt cho trồng lại Phìn Pó. Bản đi cả. Bà Dế nhắn qua thằng Tủa: bảo cô giáo mang cái hộp gỗ lên. Bà có một thứ cất trên gác bếp từ mùa đông năm ngoái, bảo phải để vào cái hộp ấy."
— Hết chương 34 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe