Chương 3: Lớp học trên ruộng bậc thang
– Cô giáo cắt lúa như cắt tóc cho búp bê, – mẹ Chở nói, và cả nhà Chở ôm bụng cười, cười đến mức con bé út đang ngồi trong gùi cũng cười theo dù chẳng hiểu gì.
Mơ đứng giữa thửa ruộng thứ năm, tính từ dưới lên, một tay cầm nắm lúa, một tay cầm cái liềm, mồ hôi chảy từ chân tóc xuống cằm. Cô nhìn nắm lúa của mình: mỗi bông một độ dài, có bông cắt sát gốc, có bông chỉ cắt được nửa. Rồi cô nhìn nắm lúa của Chở, đứa con gái chín tuổi đứng ở bậc ruộng trên: gốc rạ bằng tăm tắp, bông nào bông nấy úp vào nhau như một bó hoa.
Chở không cười. Chở chỉ nhìn cô giáo bằng đôi mắt rất đen, rất nghiêm, rồi bước xuống, cầm lấy tay cô, đặt lại vị trí cái liềm.
– Cầm thấp xuống, cô ạ. Kéo về, đừng chặt.
Đấy là câu tiếng Kinh đầu tiên Mơ nghe từ miệng học trò giỏi nhất lớp mình. Một câu dạy cô giáo.
Hôm ấy là Chủ nhật, mười bốn tháng Chín. Mơ dậy từ bốn giờ rưỡi, mượn đôi ủng của Mai, mang theo một túi bánh quy, hai cuốn vở mới trong số quà của công ty Mây Xanh, một hộp bút chì và cái hộp gỗ đựng phấn. Mai vẽ cho cô đường lên khe Sáu Bậc bằng que củi trên nền bếp: đi hết đường đất, rẽ trái ở cây sa mộc cháy, qua hai con suối cạn, lên đến chỗ có sáu bậc ruộng cao nhất, nhà nào có cái lán lợp lá cọ thì là nhà Chở.
– Hai tiếng, – Mai nói. – Người bản đi hai tiếng. Cô đi chắc ba.
Mơ đi ba tiếng rưỡi. Cô lạc một lần ở chỗ cây sa mộc cháy vì có hai cây sa mộc cháy chứ không phải một, và dừng lại năm lần chỉ để nhìn. Ruộng bậc thang tháng Chín không giống trong ảnh. Trong ảnh nó là màu vàng. Ngoài đời nó có hàng chục màu vàng. Vàng chanh ở những thửa trên cao chín sớm, vàng ngả xanh ở những thửa khuất nắng, vàng sậm như mật ong ở những thửa đã gặt dở, rơm rạ phơi trên bờ. Gió từ dưới thung thổi lên làm cả sườn núi gợn sóng, nghe như có ai đang thở rất dài. Mùi lúa chín ngai ngái, thơm như mùi cơm mới nấu chưa mở vung.
Cái lán của nhà Chở dựng ở góc thửa ruộng cao nhất. Lúc Mơ đến nơi, mẹ Chở, chị Lý Thị Pàng, đứng thẳng dậy giữa ruộng, tay che mắt nhìn cô một lúc lâu, như không tin. Rồi chị nói gì đó với chồng bằng tiếng Mông, anh Mùa A Tráng cười, và Chở thì đứng im ở bậc ruộng phía trên, tay vẫn cầm liềm, mặt không biết nên vui hay nên sợ.
Mơ đã định nói một bài. Cô soạn sẵn cả đêm qua: chuyện Chở học giỏi, chuyện tương lai, chuyện con chữ không ai lấy mất của mình, cái câu mà ông Lượng nói hôm khai giảng cô đã thấy hay. Nhưng đứng giữa ruộng lúa nhà người ta, giữa lúc cả nhà người ta đang chạy đua với mưa, cô thấy cả bài ấy nhẹ bẫng như vỏ trấu.
– Em xin cắt lúa với nhà mình một buổi, – cô nói.
Anh Tráng nhìn vợ. Chị Pàng nhìn đôi ủng to quá cỡ trên chân cô giáo. Rồi chị đưa cho cô một cái liềm.
Đến trưa thì Mơ đã cắt được tạm gọi là thẳng. Lưng cô như có ai đóng đinh, hai bàn tay phồng ba chỗ. Cả nhà ngồi ăn trong lán: mèn mén đồ trong chõ gỗ, một bát canh rau cải nấu suông, một nhúm muối ớt. Chị Pàng xới cho cô một bát mèn mén vun cao. Mơ nhìn những hạt bột ngô vàng tơi, xúc một thìa, nhai. Nó khô, nghẹn, ngòn ngọt mùi ngô. Cô phải chan canh mới nuốt trôi.
– Ăn mèn mén phải uống nước, – anh Tráng nói, đưa cho cô một ống nứa đựng nước suối. Nước lạnh buốt răng. – Cô giáo dưới xuôi ăn cơm quen.
– Mèn mén ngon mà anh.
– Ngon thì ăn thêm.
Và chị Pàng xới thêm. Mơ ăn hết hai bát mèn mén. Cả nhà nhìn cô ăn, gật gù, như thể đó là một thành tích đáng kể hơn cả cắt lúa.
Lúc nghỉ trưa, Chở trông hai em. Thằng Tếnh lên năm, chưa đi học, đang bò quanh lán bắt châu chấu. Con bé út còn trong gùi, mới hơn một tuổi, ngủ ngon lành. Mơ ngồi xuống bờ ruộng cạnh Chở, lấy que củi khô vạch lên mặt đất bờ ruộng một chữ "a".
– Chở đọc cho cô nghe xem.
Chở liếc mẹ. Chị Pàng đang ngồi khâu lại quai gùi, không nhìn sang, nhưng cũng không bảo gì. Chở đọc. Rồi Mơ viết chữ "lúa". Chở đọc. Rồi "ruộng bậc thang". Chở đọc, ngập ngừng ở chữ "thang", rồi đọc đúng. Rồi Mơ đưa que củi cho Chở, bảo Chở viết tên em trai. Chở viết "Tếnh", dấu sắc to tướng.
Thằng Tếnh bò lại, nhìn chữ trên đất, rồi lấy tay xóa đi. Chở mắng nó bằng tiếng Mông. Nó lại viết, cầm cái que bằng cả nắm tay, ra một nét ngoằn ngoèo. Chở cười, lần đầu tiên trong ngày.
– Chở dạy em đi, – Mơ nói. – Cô dạy Chở, Chở dạy em. Thế là nhà mình có hai người học.
– Ba người, – Chở nói. Nó chỉ cái gùi. – Cả em Dở.
Buổi chiều trời đổi gió. Từ phía đỉnh núi, mây xám kéo xuống, đặc như bông. Anh Tráng ngẩng nhìn, nói ngắn một câu, cả nhà cắt nhanh hơn. Mơ cũng cắt nhanh hơn. Liềm của cô trượt vào ống quần một lần, may không vào thịt.
Thì có tiếng người gọi từ bờ ruộng bên dưới, bằng tiếng Mông. Anh Tráng đáp lại, giọng vui. Mơ ngẩng lên. Chiêng đứng ở đó, áo xanh rêu, mũ mềm, cái ba lô quân dụng trên lưng, cái dao quắm đeo bên hông. Anh nhìn cô một lúc, cái kiểu nhìn hôm dốc Đá Trắng, rồi trèo lên bờ, đặt ba lô xuống cạnh lán, rút trong ba lô ra một cái liềm.
– Anh đi tuần à?
– Ừ. Đi ngang.
Ngang thế nào thì cô không hỏi. Từ đường tuần lên Phìn Pó đến khe Sáu Bậc, cô đoán phải lệch nửa sườn núi. Anh xuống thửa ruộng bên cạnh, cắt cùng anh Tráng. Hai người đàn ông, một Thái một Mông, cắt lúa không nói câu nào, chỉ có tiếng liềm xoẹt xoẹt đều như máy, và chỉ một lúc thì thửa ruộng bên ấy đã trơ gốc rạ.
Mưa đến lúc bốn giờ, nhưng chỉ là mưa bóng mây, lắc rắc một lúc rồi tạnh. Lúa đã vào bó, xếp trong lán. Anh Tráng rót rượu ngô ra hai cái chén, mời Chiêng một chén, chần chừ một lúc rồi rót thêm chén thứ ba, đưa cho Mơ.
– Cô giáo uống không được thì thôi, – anh nói.
Mơ uống. Rượu cay xè, chạy từ cổ họng xuống bụng như một dòng nước sôi. Cô ho sặc sụa. Lần này cả nhà Chở lại cười, kể cả Chở. Chiêng thì không cười, anh rót cho cô một ống nước suối, đẩy sang.
Rồi chuyện đến tự nhiên như mưa bóng mây. Chị Pàng nói một tràng bằng tiếng Mông, nhìn cô giáo, rồi nhìn chồng. Chiêng dịch lại, chậm và rõ:
– Chị ấy bảo: cô giáo cắt lúa vụng nhưng chăm. Nhà chị ấy cảm ơn. Lúa còn ba thửa nữa, nếu không mưa to thì năm hôm nữa xong. Xong thì Chở xuống học. Nhưng chị ấy muốn hỏi: Chở nghỉ hai tuần, có theo kịp không?
Mơ nhìn Chở. Chở cúi xuống nhìn đôi bàn chân đất của mình.
– Theo kịp, – Mơ nói. – Chiều thứ Bảy nào cô cũng dạy bù cho Chở. Hai tháng. Cô hứa.
Chiêng dịch. Chị Pàng gật đầu. Anh Tráng rót thêm rượu vào chén của Chiêng, không rót vào chén của cô giáo nữa.
Lúc xuống núi thì trời đã ngả chiều. Ánh nắng cuối ngày lọt qua khe mây, chiếu xiên xuống cả sườn núi bậc thang, làm những thửa ruộng chưa gặt sáng lên như mạ vàng, còn những thửa đã gặt thì lốm đốm như tấm thảm cũ. Mơ đi trước, Chiêng đi sau, dắt theo chiếc xe máy anh để ở chỗ cây sa mộc cháy thứ hai, đường dốc quá không đi được. Đôi ủng của Mai cứ tuột khỏi gót chân cô.
– Sao anh biết em lên đây?
– Mai nói.
– Anh hỏi chị Mai à?
– Mai nói, – anh nhắc lại. Rồi một lúc sau: – Đường này có hai cây sa mộc cháy.
– Em biết rồi. Em lạc rồi.
Anh cười. Cô nghe tiếng anh cười sau lưng, nhỏ, khàn, như tiếng sỏi lăn.
Họ đi một quãng dài không nói gì. Rồi đến một chỗ đường vòng qua mỏm đá, nhìn xuống thấy cả bản Lùng Phìn, thấy cả con đường đất ngoằn ngoèo chạy xuống Nà Hừ, thấy cả dãy núi đối diện với vạt rừng xanh sẫm. Chiêng dừng lại. Anh nhìn vạt rừng ấy lâu, như người ta nhìn mặt một người ốm.
– Anh lớn lên ở đây à?
– Ở Nà Hừ. Dưới kia. – Anh chỉ cái thung lũng mờ khói. – Bố tôi làm kiểm lâm. Hồi bé tôi đi theo ông lên đây suốt.
– Thế bố anh giờ...
– Mất rồi. Ở đèo, năm tôi mười hai tuổi.
Anh nói thế, rồi thôi. Anh không nói đèo nào, mất thế nào. Mơ cũng không hỏi. Có những câu nói người ta đặt xuống đường như đặt một hòn đá chặn, ý bảo đến đây thôi. Cô nhận ra điều đó ở anh, như cô vẫn nhận ra điều đó ở bố mình mỗi khi cô hỏi về những năm ông chạy xe đường dài. Những năm ấy bố cô hay kể, kể về những con đèo, những bản người Thái có cô gái đội khăn thêu, những bát cháo nóng ở quán đầu dốc lúc ba giờ sáng. Rồi đến một năm, năm cô học lớp Một, ông thôi kể. Ông bán xe, mở xưởng mộc. Hỏi đến thì ông chỉ bảo: chạy xe vất vả, bố già rồi.
Lúc ấy bố cô mới ba mươi tư tuổi. Bây giờ cô mới thấy con số ấy lạ.
Họ về đến điểm trường thì trời đã nhá nhem. Mai đang đứng ở cổng, tay ôm cái nồi, thấy hai người thì quay vào bếp không nói gì, chỉ cười một mình. Chiêng dựng xe định đi luôn. Mơ chạy vào phòng lấy cho anh cái áo mưa vì trời lại lất phất.
Lúc cô quay ra, có một thằng bé đứng ở cạnh xe của Chiêng. Dình. Nó cầm một tờ giấy gấp làm tư, chìa cho Chiêng. Chiêng mở ra xem dưới ánh đèn pin. Mơ đi tới, nhìn qua vai anh.
Đó là một trong những tờ giấy trắng cô đưa cho Dình hôm đầu tuần. Trên đó Dình vẽ bằng bút chì, nét rất đậm: một sườn núi, mấy thân cây to, nét vẽ thân cây dày hơn mọi nét khác. Dưới gốc cây có ba người tí hon. Đầu ba người có một chấm tròn tô kín, từ chấm tròn tỏa ra những tia thẳng, đèn đội đầu. Hai người đứng xa. Một người đứng sát thân cây, tay giơ lên, đầu đội cái mũ có lưỡi trai, và chỉ riêng cái mũ ấy, Dình đã lấy bút sáp màu cam tô kín.
Ở góc tờ giấy, chữ Dình viết ngoằn ngoèo, chữ "đ" ngược:
"Đêm ở nương xa. Người ta cởi áo cho cây."
– Con thấy lúc nào? – Chiêng hỏi bằng tiếng Mông, rồi hỏi lại bằng tiếng Kinh cho Mơ nghe.
Dình giơ hai bàn tay, xòe đủ mười ngón, rồi gập lại hai ngón.
– Tám đêm trước, – Chiêng nói. Anh gấp tờ giấy lại, rất cẩn thận, theo đúng nếp cũ.
– "Cởi áo cho cây" là sao hả anh?
Chiêng không trả lời. Anh nhìn Dình, rồi ngẩng lên nhìn dãy núi bên kia, nơi bây giờ chỉ còn là một khối đen sẫm hơn bầu trời.
– Cháu còn vẽ cho ai xem cái này không? – anh hỏi Dình.
Dình lắc đầu. Rồi nó nghĩ một lúc, giơ lên một ngón tay, chỉ thẳng vào Mơ.
– Con định cho cô xem trước, – nó nói. – Nhưng cô đi gặt.
— Hết chương 3 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe