AI Truyện
Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn

💞 Ngôn tình

Dình bỏ học

Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn · Chương 23/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 23: Dình bỏ học

Cái gùi của mẹ Dình đã xếp xong, buộc dây, dựng ở cửa, và Dình ngồi bên cạnh cái gùi, ôm tập giấy vẽ vào ngực, không khóc, không nói, không nhìn ai.

– Ba tháng thôi cô giáo, – anh Vừ A Sử nói, qua lời Mai dịch. – Đi trồng rừng thuê cho người ta ở dưới trung du. Người ta trả công cả nhà. Ba tháng về, có tiền lợp lại mái nhà.

Hôm ấy là Chủ nhật, mười hai tháng Tư. Mơ đến nhà Dình lúc sáu giờ sáng, sau khi Mỷ chạy sang điểm trường từ tối hôm trước, níu áo cô nói một tràng tiếng Mông mà cô chỉ hiểu được hai chữ: anh Dình, và đi. Mai dịch lại: cả nhà Dình sắp đi làm xa. Mai bảo năm nào cũng có mấy nhà đi như thế, mùa trồng rừng, mùa hái chè, mùa cấy thuê. Đi thì trẻ con đi theo. Đi thì nghỉ học. Có đứa về thì học lại. Có đứa thì không.

Nhà Dình nằm ở giữa bản, nhà trình tường đất, mái lợp gỗ pơ mu cũ đã xám bạc, chỗ dột vá bằng mấy tấm tôn. Mơ nhìn lên mái, thấy những chỗ ánh sáng lọt qua thành sợi. Cô hiểu vì sao anh Sử muốn đi.

Chị Giàng Thị Chua, mẹ Dình, ngồi bên bếp, bế Mỷ trong lòng, không nói gì. Chị nhìn cô giáo, nhìn con trai, rồi nhìn xuống bếp lửa. Mơ không cần Mai dịch cũng hiểu cái nhìn ấy. Chị không muốn con nghỉ học. Chị cũng không muốn mái nhà dột thêm một mùa mưa.

– Dình lớp Ba rồi anh ạ, – Mơ nói. – Nghỉ ba tháng là mất cả học kỳ cuối. Sang năm lên lớp Bốn, phải xuống trường chính bán trú, em ấy không theo kịp thì...

Mai dịch. Anh Sử nghe, gật gù, rồi nói một câu ngắn. Mai ngập ngừng.

– Anh ấy bảo: học thì lúc nào chả học được. Mái nhà thì mưa là dột.

Mơ không biết đáp thế nào. Cô nhìn Dình. Thằng bé vẫn ôm tập giấy vẽ, mắt nhìn ra cửa, nơi bên kia thung, dãy núi Phìn Pó xanh sẫm đã có những vệt mây trắng bám lưng chừng.

Chín giờ, trưởng bản Sính đến. Rồi thầy Khua. Không ai gọi, nhưng tin đi nhanh hơn người. Họ ngồi quanh bếp, anh Sử rót rượu. Trưởng bản nói một hồi, giọng chậm, anh Sử nghe, thỉnh thoảng đáp lại một câu, giọng cũng chậm. Mai dịch nhỏ cho Mơ. Trưởng bản không cấm. Trưởng bản không bao giờ cấm ai đi làm. Ông chỉ nói đến mái nhà, nói đến việc xã có chương trình hỗ trợ sửa nhà cho hộ khó khăn, ông sẽ đi hỏi. Ông nói đến tổ bảo vệ rừng của bản cần thêm người. Anh Sử gật đầu, nhưng mắt vẫn nhìn cái gùi đã buộc.

Thầy Khua ngồi im suốt. Thầy uống hai chén rượu, không nói gì. Rồi thầy đứng dậy, đi đến chỗ Dình ngồi, cúi xuống, cầm lấy tập giấy vẽ trong tay thằng bé. Dình để yên.

Thầy lật từng tờ. Cây đào ở góc sân trường. Pà đứng hát giữa bãi đất Tết. Mười lăm cái đèn Trung thu méo mó. Cô giáo ngồi bệt trong bùn dốc Đá Trắng, tay ôm cái hộp. Chú Chiêng ngồi trên mái nhà như con khỉ. Bà Dế chống gậy. Con trâu nhà trưởng bản khoác bao tải đứng trong băng giá.

Thầy Khua đưa tập giấy cho anh Sử. Anh Sử cầm, lật mấy tờ. Anh dừng lại ở một tờ. Mơ nghiêng đầu nhìn: đó là một bức tranh vẽ nhà Dình. Mái nhà gỗ pơ mu, những sợi ánh sáng lọt qua chỗ dột, vẽ bằng bút chì vàng. Dưới mái nhà, bốn người ngồi quanh bếp lửa. Một người đàn ông. Một người đàn bà bế một đứa bé. Một thằng bé đầu trọc đang cầm bút vẽ.

Thầy Khua nói một câu. Chỉ một câu. Giọng thầy trầm, khàn vì thuốc lào.

Anh Sử nhìn bức tranh rất lâu.

– Thầy nói gì vậy chị? – Mơ hỏi khẽ.

Mai nhìn thầy Khua, rồi nhìn Mơ.

– Thầy bảo: mái nhà thì mình lợp lại được. Thằng bé này mà bỏ bút thì mình không lợp lại được nó.

Đến trưa thì họ quyết. Anh Sử, chị Chua và con bé Mỷ vẫn đi, vì người ta đã nhận lời, đã nhận tiền ứng trước. Dình ở lại với bà nội, bà Lý Thị Sùa, ở ngay nhà bên cạnh. Trưởng bản hứa đi hỏi chuyện hỗ trợ sửa nhà. Mơ hứa chiều thứ Bảy nào cũng dạy thêm cho Dình như dạy cho Chở. Thầy Khua không hứa gì. Thầy chỉ xoa đầu Dình, rồi chắp tay sau lưng đi về.

Chiều hôm ấy, cả nhà Dình đi. Dình đứng ở đầu dốc cuối bản, cạnh bà nội, nhìn theo bố mẹ và em gái xuống con đường đất. Mỷ ngồi trên lưng mẹ, trong cái địu vải chàm, ngoái lại vẫy anh, vẫy mãi đến khi khuất ở khúc quanh. Dình không vẫy. Dình đứng im. Rồi nó quay lại, đi về phía điểm trường, ngồi xuống gốc đào, mở tập giấy, và vẽ.

Mơ không bảo nó dừng.

Hai tuần sau, tranh của Dình được treo ở hội trường xã.

Ý ấy là của thầy Đông. Dịp Ngày Sách, trường chính tổ chức một buổi trưng bày nho nhỏ ở hội trường xã, sách, báo tường, tranh vẽ của học sinh các điểm trường. Mơ gửi xuống mười hai bức tranh của Dình. Cô chọn rất kỹ. Không có tranh nào vẽ rừng ban đêm. Không có cái mũ màu cam. Không có cây đeo thắt lưng. Chỉ có bản Lùng Phìn, bọn trẻ, cây đào, con trâu, cái bếp lửa, cô giáo ngã trong bùn. Thầy Đông dán cả mười hai bức lên một tấm bìa to, ghi một dòng: "Bản em. Tranh của Vừ A Dình, lớp Ba, điểm trường Lùng Phìn."

Hôm trưng bày, thứ Bảy hai mươi lăm tháng Tư, Chiêng chở Dình xuống. Thằng bé đứng trước tấm bìa, nhìn tranh của mình dán trên tường hội trường xã, giữa những cuốn sách, những tờ báo tường, những người lớn đi qua đứng lại xem. Một bà cụ người Thái chỉ vào bức vẽ con trâu khoác bao tải, cười đến chảy nước mắt. Ông chủ tịch xã Nghiệp đi qua, dừng lại, xem hết mười hai bức, rồi hỏi tên thằng bé, rồi bắt tay nó như bắt tay người lớn.

Dình đứng thẳng, mặt đỏ, không nói gì. Nhưng lúc về, ngồi sau xe Chiêng, nó nói với cô giáo, đủ to để vượt qua tiếng gió:

– Con chụp ảnh gửi bố mẹ con được không cô?

Mơ chụp. Gửi qua số điện thoại của trưởng bản. Tối hôm ấy anh Sử gọi về, nói chuyện với con mười phút, và Dình đứng trên mỏm đá sau trường, áp điện thoại vào tai, cười.

Cũng hôm ấy, Mơ và Chiêng nói chuyện lâu nhất kể từ hội hoa ban.

Không phải chuyện hai người. Chuyện rừng. Anh ngồi ở bậc cửa lớp học, đúng chỗ cũ, cô ngồi cạnh, cách một khoảng nhỏ. Lâu rồi cô không ngồi đây. Anh kể, giọng mệt.

Hai tuần nay anh với anh Thuận lần theo sáu cây gỗ mất đêm mười lăm tháng Hai. Lần theo cái số điện thoại báo cháy: anh Thuận xác minh được cái sim mua ở một cửa hàng dưới phường trung tâm tỉnh, đăng ký bằng giấy tờ của một người đã chết từ năm ngoái. Đứt. Lần theo vết gỗ lăn: anh với hai kiểm lâm khác dùng dây thừng tụt xuống khe Tả Pờ được chừng ba chục mét thì gặp một thác nước dựng đứng, đá trơn, không xuống tiếp được. Ở mép khe, anh tìm thấy một sợi dây dù xanh còn mới buộc vào gốc cây re, đầu dây thả xuống khe, đã bị cắt.

– Có người xuống trước anh, – anh nói. – Có người biết đường xuống mà anh không biết.

– Thế bây giờ...

– Bây giờ thì chờ. Mùa mưa nước khe lên, không ai xuống được. Người ta cũng chờ. Chờ đến khi anh chán.

Anh im một lúc, bẻ một cọng cỏ, ngậm.

– Anh nghĩ là có người trong Hạt.

Mơ quay sang.

– Lịch trực Tết anh Khải lập, gửi trong nhóm chat của Hạt, hai chục người đọc. Ai cũng biết Tết chỉ có ba người trên Lùng Phìn. – Anh lắc đầu. – Anh ghét nghĩ thế. Hai chục người ấy anh quen cả. Có người đi rừng với bố anh.

– Có khi không phải người trong Hạt.

– Ừ. Có khi là anh. – Anh nói, rất khẽ. – Anh nghĩ mãi. Anh có nói với ai không. Anh nói với mẻ. Anh nói với em. Hôm hai mươi sáu Tết, trên xe ra bến, anh Pấng hỏi Tết ai trực, anh bảo anh Khải với hai người nữa. – Anh nhả cọng cỏ ra. – Anh Pấng hỏi để mùng ba mang rượu lên chúc Tết anh Khải. Mùng ba anh ấy có mang rượu lên thật. Anh Khải kể.

Mơ nhìn anh. Anh không nhìn cô. Anh nhìn lên Phìn Pó.

– Anh không nghi anh Pấng, – anh nói. Giọng anh không khẳng định. Giọng anh như người đang hỏi chính mình. – Anh chỉ nghĩ là anh nói nhiều quá. Nói với người này, người này nói với người kia. Ở cái xã này, một câu nói đi nhanh hơn xe máy.

Mơ không nói gì. Cô nhớ ra Nhung đứng giữa hội hoa ban nhìn theo chồng, nói: ông chủ gọi chở hàng. Cô nhớ ra Chiêng kể đêm giao thừa: anh Pấng hỏi bố em làm gì. Rồi hai tuần sau ông Lượng đứng ở sân trường này, gọi tên bố cô.

Cô lại thấy cái lạnh ấy chạy dọc sống lưng. Lần này cô không gạt nó đi được. Nhưng cô cũng không nói được. Cô đã nghi Vư, và cô đã sai. Cô đang giấu anh một chuyện lớn gấp trăm lần. Cô lấy đâu ra quyền nói với anh rằng người anh họ đã lôi anh lên khỏi xoáy nước năm anh tám tuổi có thể là người đang bán anh.

– Anh, – cô nói. – Bố em sắp khỏi rồi. Tuần trước bố em ra viện. Bác sĩ bảo nghỉ thêm một tháng, không được đi xa. Bố em bảo khỏe là bố em lên ngay.

Chiêng quay sang nhìn cô. Lần đầu tiên từ hội hoa ban, anh nhìn cô lâu như thế.

– Bố em lên để làm gì, em nói được không?

– Chưa được.

– Ừ. – Anh gật đầu. – Anh đợi.

Anh đứng dậy, phủi quần, đội mũ. Đến cổng, anh quay lại.

– Mơ. Dạo này đêm em có nghe tiếng gì bên kia thung không?

– Không anh ạ. Từ Tết đến giờ không.

– Ừ. Im quá. – Anh nhìn sang Phìn Pó. – Rừng mà im quá thì anh sợ hơn là ồn.

Anh nổ máy đi xuống.

Đêm thứ Tư tuần sau, mưa đầu mùa đến.

Không có báo trước. Chiều còn nắng, nóng hầm hập như mùa hè dưới xuôi. Đến tối thì gió đổi, mây đen kéo từ đỉnh Phìn Pó xuống, nhanh như ai kéo một tấm chăn, rồi sấm, rồi chớp, rồi mưa. Mưa như đổ. Mưa trên mái tôn rền như tiếng thác. Mơ nằm trong phòng, nghe tiếng mưa, nghe tiếng gió giật những tấm giấy báo dán vách, nghe tiếng nước chảy ào ào xuống rãnh sau nhà.

Rồi cô nghe một tiếng khác. Tiếng tách. Tiếng tách. Đều đều. Gần lắm.

Cô bật đèn sạc. Trên mái tôn, ngay phía trên cái giá gỗ, có một vệt nước loang. Từ vệt nước ấy, từng giọt từng giọt rơi xuống.

Rơi đúng vào cái hộp gỗ pơ mu.

Cô nhảy khỏi giường, chộp lấy cái hộp. Nắp hộp đã ướt sũng. Nước đã thấm vào trong qua khe nắp trượt. Cô kéo nắp ra. Những viên phấn trắng đã nhão một đầu. Tập nhãn dán ngôi sao dính bết vào nhau. Và miếng nỉ xanh lót đáy hộp, miếng nỉ cắt từ cái áo khoác cũ, dán bằng keo sữa, đã ngấm nước, sẫm lại, phồng lên một góc như một vết bỏng.

Mơ cầm cái hộp, đứng giữa phòng, nước mưa nhỏ xuống tóc cô. Cô nhìn cái góc nỉ phồng lên. Cô chỉ cần lấy ngón tay ấn nó xuống. Hoặc lật nó lên.

Cô không làm gì cả. Cô đóng nắp hộp lại, bọc nó trong cái khăn len đỏ, đặt lên đầu giường, chỗ khô nhất trong phòng. Rồi cô lấy cái chậu nhựa hứng dưới chỗ dột, ngồi trên giường, ôm gối, nghe tiếng nước nhỏ xuống chậu, tách, tách, tách, đến sáng.

— Hết chương 23 —

Mục lục Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn

  1. 1Hộp gỗ thơm trong bùn11 phút
  2. 2Khai giảng thiếu một đôi dép11 phút đọc
  3. 3Lớp học trên ruộng bậc thang11 phút đọc
  4. 4Đứa trẻ không nói tiếng Kinh10 phút đọc
  5. 5Trung thu không có đèn ông sao10 phút đọc
  6. 6Nhà sàn ở bản Nà Hừ11 phút đọc
  7. 7Những cây chết đứng11 phút đọc
  8. 8Mùa gặt cuối cùng10 phút đọc
  9. 9Vòng thắt lưng dưới lớp rêu12 phút đọc
  10. 10Biên bản không có chữ ký11 phút đọc
  11. 11Bốn mươi hai cái chăn11 phút đọc
  12. 12Băng giá trên ruộng bậc thang10 phút đọc
  13. 13Đường xuống trạm y tế12 phút đọc
  14. 14Ai lấy tranh của Dình10 phút đọc
  15. 15Tết Mông11 phút đọc
  16. 16Đêm ông Công ông Táo11 phút đọc
  17. 17Bánh chưng bên sông10 phút đọc
  18. 18Người trong cabin10 phút đọc
  19. 19Giao thừa bên xưởng mộc12 phút đọc
  20. 20Hoa mận trắng ở Lùng Phìn10 phút đọc
  21. 21Lời đe doạ không lên giọng12 phút đọc
  22. 22Hội hoa ban10 phút đọc
  23. 23Dình bỏ học11 phút đọc
  24. 24Mưa đầu mùa10 phút đọc
  25. 25Dấu búa dưới lớp nỉ10 phút đọc
  26. 26Người đàn ông dưới chân đèo11 phút đọc
  27. 27Đêm lũ ống11 phút đọc
  28. 28Những khúc gỗ biết nói11 phút đọc
  29. 29Người anh họ10 phút đọc
  30. 30Chuyến xe cuối cùng10 phút đọc
  31. 31Đèo Pha Lìn, lần thứ hai10 phút đọc
  32. 32Lời khai10 phút đọc
  33. 33Bữa cơm hai nhà10 phút đọc
  34. 34Lá đơn chuyển trường10 phút đọc
  35. 35Cây pơ mu con10 phút đọc
  36. 36Mùa lúa chín lại10 phút đọc

Về truyện này

Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →