Chương 15: Tết Mông
Quả pao bay lệch khỏi tay Mơ, vẽ một đường cong rất xấu trên nền trời xanh ngắt, và rơi thẳng vào lòng bàn tay Chiêng đang đứng ngoài rìa sân, tay cầm bát rượu, không hề tham gia trò chơi.
Cả bãi đất trống đầu bản phá lên cười.
Hai hàng thanh niên nam nữ Lùng Phìn, váy áo mới tinh, đứng đối diện nhau ném pao từ sáng, cười đến gập người. Mấy bà già ngồi trên bờ ruộng che miệng. Mấy ông già đang uống rượu ở gốc cây ngẩng lên, gật gù như vừa được xem một màn hay. Mai, đứng cạnh Mơ trong hàng con gái, cười đến chảy nước mắt.
– Cô Mơ ơi, cô ném cho ai thế?
– Em ném cho anh Lử! – Mơ chỉ người thanh niên đứng trước mặt cô ở hàng bên kia, cách cô chừng mười bước. – Em ném thẳng mà!
– Thẳng đi đâu? Thẳng sang người Thái à?
Chiêng đứng ngoài rìa sân, tay trái cầm bát rượu, tay phải cầm quả pao. Quả pao làm bằng vải, khâu thành hình tròn, nhồi hạt bông, có bốn cái dải vải đủ màu thòng xuống như cái đuôi. Anh nhìn quả pao, nhìn Mơ, rồi nhìn cái hàng thanh niên Mông đang cười nghiêng ngả. Anh đặt bát rượu xuống đất. Anh ném trả quả pao.
Quả pao bay một đường thẳng tắp, đẹp như vẽ, rơi trúng vào hai tay Mơ. Cô chụp. Hụt. Quả pao nảy ra khỏi tay cô, rơi xuống đất.
Lần này cả bản cười ầm lên. Có ông già cười đến sặc rượu.
– Cô Mơ rơi pao rồi! – Mai reo lên. – Cô phải nộp đồ!
Theo luật chơi ở bản này, người nào làm rơi quả pao thì phải đưa cho người ném một món đồ trên người làm tin. Muốn chuộc lại thì phải hát. Mơ đã thấy mấy cô gái Lùng Phìn nộp vòng bạc, nộp khăn, nộp cả cái túi thêu, rồi lại đứng hát chuộc, giọng trong như suối, những bài hát cô không hiểu nhưng nghe là biết đang trêu ai.
Cô tháo cái khăn len quàng cổ, cái khăn màu đỏ mẹ đan. Cô đi ra rìa sân, đặt vào tay Chiêng. Anh cầm cái khăn, cuộn lại, nhét vào túi áo ngực, cái túi đã có cái ná cao su của Tủa.
– Hát đi, cô Mơ! Hát đi!
Mơ đứng giữa sân. Cả bản nhìn cô. Cô hát dở. Cả trường tiểu học dưới xuôi biết cô hát dở. Mẹ cô bảo cô hát như con mèo bị giẫm đuôi. Nhưng ở đây là bãi đất trống của Lùng Phìn, ngày Tết của người Mông, trời xanh như ngọc, nắng vàng như mật, những cánh đồng bậc thang trơ gốc rạ xung quanh phủ một lớp sương mỏng chưa tan. Cô hít một hơi, và hát bài duy nhất cô thuộc hết lời. Bài hát ru dưới quê, bài bà nội cô hay hát. Con cò mà đi ăn đêm.
Cô hát lệch tông ngay từ câu đầu. Cô hát hụt hơi ở câu thứ ba. Cô quên lời ở câu thứ năm, phải ậm ừ cho qua. Không ai cười. Cả bản đứng im, nghe một cô giáo người Kinh hát một bài hát ru người Kinh, sai tông, quên lời, giữa ngày Tết của họ. Hát xong, cô đỏ mặt, cúi đầu.
Chiêng rút cái khăn đỏ ra khỏi túi áo, đi đến, quàng lại vào cổ cô. Rồi anh nói, đủ to cho cả bản nghe, bằng tiếng Mông. Mai dịch lại, cười khúc khích:
– Anh ấy bảo: hát dở thế này thì không chuộc được. Nhưng trả lại khăn, vì sợ cô giáo lạnh.
Bản Lùng Phìn ăn Tết từ Chủ nhật, mười tám tháng Một, ngày cuối cùng của tháng Mười một âm lịch. Mơ được thầy Đông cho điểm trường nghỉ hai ngày thứ Hai, thứ Ba theo phong tục, như năm nào cũng thế. Không cho nghỉ thì học trò cũng không đến.
Cả tuần trước đó, cô đã thấy bản đổi khác. Đàn bà ngồi ở hiên nhà thêu váy mới, khâu áo mới, những tấm vải lanh nhuộm chàm, những đường thêu đỏ vàng sặc sỡ hình xoắn ốc, hình răng cưa, hình con ốc. Đàn ông đi chặt củi, chất thành đống cao trước cửa. Nhà nào cũng giã bánh dày. Tiếng chày gỗ thình thịch từ sáng đến tối, vang khắp yên ngựa. Mai dắt cô đi xem. Hai người đàn ông đứng hai bên một cái cối gỗ khoét từ nguyên thân cây, mỗi người một cái chày dài, giã xôi nếp nóng hổi. Nhịp nhàng, chày này nhấc lên thì chày kia nện xuống, đến khi xôi nhuyễn thành một khối dẻo quánh. Rồi đàn bà bốc ra, nặn thành những cái bánh tròn trắng, to bằng cái đĩa.
Ngày ba mươi Tết của người Mông, nhà nào cũng cúng tổ tiên. Mơ không được vào xem, cô cũng không xin. Cô chỉ thấy những tờ giấy trắng dán lên các đồ vật trong nhà. Dán lên cái cày. Dán lên cái cuốc. Dán lên cái cối giã. Dán lên cả khung cửa, cái cột nhà.
– Để cảm ơn, – Mai giải thích. – Cả năm cái cày cái cuốc làm việc cho mình. Tết thì cho nó nghỉ. Dán giấy là bảo nó: nghỉ đi, ăn Tết với nhà mình.
Mơ nhìn những tờ giấy trắng trên cái cày đã mòn, và cô thấy cay cay ở sống mũi, không rõ vì sao.
Sáng mùng một Tết, chị Pàng, mẹ Chở, mang đến cho cô một bộ váy áo Mông. Váy xòe xếp ly bằng vải lanh, những dải thêu đỏ, vàng, xanh chạy vòng quanh gấu váy. Áo cánh đen, cổ áo thêu kín hoa văn. Tạp dề thêu. Xà cạp quấn chân. Chị Pàng mặc cho cô từng thứ một, quấn, buộc, chỉnh, ngắm, rồi lại chỉnh. Chở đứng xem, mắt sáng rỡ.
– Của chị Pàng hồi trẻ, – Chở dịch lời mẹ. – Mẹ con bảo: cô giáo gầy, mặc vừa. Mẹ con bảo: cô giáo cắt lúa với nhà con, thì Tết mặc váy nhà con.
Mơ mặc bộ váy ấy suốt ba ngày Tết. Cô đi ăn Tết ở nhà Chở, nhà Mai, nhà trưởng bản, nhà bà Dế. Nhà nào cũng mời bánh dày nướng chấm mật ong, mời thắng cố, mời rượu ngô. Cô ăn đến mức không đứng dậy nổi. Cô học được cách bẻ bánh dày nướng, cách cầm bát rượu bằng hai tay, cách nói "ủa chố" khi người ta gắp thức ăn cho mình, cái từ cảm ơn duy nhất cô nói được đúng giọng.
Chiều mùng một, giữa bãi đất trống đầu bản, khi trò ném pao tạm nghỉ, trưởng bản Sính đứng lên, nói gì đó, rồi chỉ về phía Pà.
Pà đứng giữa đám trẻ con. Con bé mặc váy mới, váy của bà Chía khâu cả tháng nay, tóc tết hai bím buộc len đỏ. Nó nhìn trưởng bản. Rồi nó nhìn cô giáo. Mơ gật đầu.
Pà đi ra giữa bãi đất. Cả bản im.
Con bé hát. Một bài hát tiếng Mông, giọng trong vắt, cao vút, như một sợi chỉ bạc kéo căng giữa hai đỉnh núi. Mơ không hiểu lời. Nhưng cô nhận ra giai điệu. Lên rồi xuống, xuống rồi lên, như cái võng đưa, như người đi trên một con đường dốc quen thuộc. Bài hát ru của chị Lia. Đến đoạn giữa, đoạn mà đêm hôm ấy trên mỏm đá chị Lia đã quên lời, Pà hát chậm lại, rõ từng chữ, như muốn nói với ai đó ở rất xa: đoạn này là như thế này, mẹ ạ, mẹ nhớ lấy.
Bà Chía ngồi trên bờ ruộng, lấy vạt khăn che mặt.
Mơ cầm điện thoại, quay lại. Cô sẽ gửi cho chị Lia tối nay, khi ra mỏm đá.
Sình về từ chiều ba mươi.
Mơ biết được từ Tủa. Thằng bé chạy đến điểm trường lúc chiều muộn hôm ấy, mặt rạng rỡ, cái mặt mà từ hôm bố nó đi cô chưa thấy lần nào. Bố nó về. Mẹ nó về. Em nó về. Cả nhà về ăn Tết, ba ngày rồi lại đi.
Tối mùng hai, Chiêng sang nhà trưởng bản Sính. Mơ đi theo, vì Chiêng bảo cô đi theo. Anh không giải thích. Trưởng bản đã cho người sang mời Sình. Họ ngồi quanh bếp lửa nhà trưởng bản, bốn người: trưởng bản, Chiêng, Sình, và Mơ ngồi lùi ra sau một chút, ở góc tối. Vợ trưởng bản rót rượu, rồi đi vào buồng trong.
Lúc đầu không ai nói chuyện rừng. Họ nói chuyện Tết, chuyện lợn, chuyện mùa ngô năm sau. Sình kể về chỗ làm dưới xuôi, một xưởng gạch ở đâu đó dưới đồng bằng, ngày làm mười hai tiếng, tối ngủ lán, mùa đông ở dưới ấy không có băng giá nhưng rét ngấm vào xương. Bàn tay trái của gã đã lành, để lại một vết sẹo trắng chạy chéo từ ngón cái xuống cổ tay.
Rồi trưởng bản nói. Ông nói chậm, giọng trầm. Chiêng ngồi cạnh Mơ, khẽ dịch cho cô nghe, từng câu một.
– Ông ấy bảo: Sình, mày đi gần hai tháng. Cả bản biết vì sao mày đi. Mày đi không phải vì mày có tội. Mày đi vì mày sợ.
Sình cúi đầu.
– Ông ấy bảo: ông già rồi. Ông không sợ ai bắt. Cây mẹ trên Phìn Pó là cây ông nội ông đã cúng, ông ông đã cúng, ông cũng đã cúng. Cây mẹ chết thì ông chết không nhắm mắt.
Lửa bếp nổ lép bép. Sình ngồi im rất lâu. Rồi gã ngẩng lên, nhìn thẳng vào Chiêng, và nói. Nói bằng tiếng Mông, nói nhanh, như người đã giữ quá lâu.
Chiêng dịch. Anh dịch chậm hơn Sình nói, như sợ đánh rơi một chữ.
– Anh ấy bảo: người bảo bóc vỏ cả vòng là ông Trụ. Không phải kỹ sư. Kỹ sư chỉ lên có hai lần, chụp ảnh lỗ sâu. Ông Trụ dẫn người lên. Bóc vòng quanh, sâu đến gỗ. Rồi trát bùn trộn rêu lên. Ông Trụ đứng bên cạnh, cầm đèn, chỉ chỗ nào chưa kín thì bảo trát thêm.
– Làm ban đêm à? – Mơ hỏi khẽ.
Chiêng hỏi lại Sình. Sình gật đầu.
– Ban đêm. Ban ngày làm sâm trong lô, ban đêm lên Phìn Pó. Trả gấp đôi. Mỗi đêm sáu trăm nghìn. Mười mấy người, ba tháng, làm mấy chục đêm.
– Không sợ kiểm lâm đi tuần à?
Sình nghe Chiêng hỏi, rồi cười. Một tiếng cười khô, không vui. Gã nói một câu, rồi nhìn Chiêng, rất lâu.
Chiêng không dịch ngay. Anh ngồi im. Mơ thấy bàn tay anh đặt trên đầu gối nắm lại.
– Anh ấy bảo gì hả anh?
Chiêng nhìn ngọn lửa.
– Anh ấy bảo: ông Trụ biết hết. Đêm nào anh đi tuần, đêm ấy không ai lên. Đêm nào anh ở nhà, đêm ấy cả bọn lên. Ông Trụ bảo: có người báo.
Ngoài kia, tiếng khèn của ai đó vọng lại từ cuối bản, một điệu khèn Tết, vui, rộn ràng. Trong nhà trưởng bản, không ai nói gì.
Đêm ấy, Chiêng chở Mơ về điểm trường rồi ngồi lại trên bậc cửa lớp học rất lâu. Cô ngồi cạnh anh, quấn chăn. Mảnh trăng non mùng hai đã lặn từ đầu hôm, trời tối đặc, chỉ có sao.
– Lịch đi tuần của anh, – anh nói, như nói với chính mình. – Anh không công bố. Anh không ghi lên bảng. Chỉ có vài người biết.
– Những ai?
Anh im một lúc, rồi đếm. Chậm. Như đếm những cây pơ mu bị khoanh vỏ.
– Anh Khải. Vì anh báo cáo anh Khải. Anh Thuận, vì có lúc anh đi cùng công an. Mẹ anh, vì đêm nào anh đi thì mẹ anh để cơm. – Anh dừng lại. – Và anh Pấng. Vì anh Pấng hay gọi rủ anh đi uống rượu, anh bảo hôm nay đi tuần, hôm nay không.
Anh nói tên cuối cùng, rồi lắc đầu, lắc mạnh, như người ta lắc đầu để rũ nước mưa.
– Không. Anh Pấng thì không. Anh ấy lôi anh lên khỏi xoáy nước suối Nậm Lìn năm anh tám tuổi. Anh ấy ngồi với mẹ anh cả đêm hôm bố anh mất. Anh ấy chạy xe tải lên tận dốc Đá Trắng lúc nửa đêm để cứu thằng Lềnh.
Mơ không nói gì. Cô nhớ ra nhiều thứ cùng một lúc. Nhớ Pấng ngồi trên bậc kho uống chè hỏi Dình thấy người ở đâu. Nhớ Pấng hỏi bà Ỏn ngày mai thằng Chiêng đi đâu. Nhớ chiếc xe máy của Pấng ở khúc quanh dưới lô sâm ngày Chủ nhật, khi cái lán bảo vệ đóng cửa. Nhớ cái vẻ lạ trong mắt Pấng ở trạm y tế, như muốn nói thêm một câu nữa.
Rồi cô tự bảo mình: đấy chỉ là những mảnh rời. Cô đã ghép những mảnh rời thành Vư, và cô đã sai.
– Ừ, – cô nói. – Anh Pấng thì không.
Chiêng gật đầu, như được cô xác nhận. Anh nhìn lên bầu trời đầy sao. Mơ nhìn anh. Cô không biết là trong bóng tối ấy, cả hai người đang cùng nghĩ đến một cái tên, và cùng cố không nghĩ đến nó.
— Hết chương 15 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe