Chương 28: Những khúc gỗ biết nói
– Cây đổ do bão, – ông Lượng nói, đứng trên bờ suối, tay chắp sau lưng, nhìn xuống bãi gỗ như nhìn một bãi rác người khác đổ. – Mùa mưa năm nào chẳng có cây đổ. Lũ cuốn từ trên rừng xuống. Công ty tôi ở dưới lô sâm, thì liên quan gì?
Không ai trả lời ông ta. Mười mấy người đứng trên bờ suối sáng thứ Năm ấy, kiểm lâm, công an xã, hai cán bộ công an tỉnh mặc thường phục, cán bộ xã, trưởng bản, mấy người Lùng Phìn đứng xa hơn. Tất cả nhìn xuống lòng suối đã rút gần cạn, nơi ba mươi bảy khúc gỗ pơ mu vẫn nằm ngổn ngang trên bãi đá, mỗi khúc đã được ai đó đánh một con số bằng phấn trắng.
Mơ đứng ở rìa đám đông, chống cái gậy tre của bà Dế. Chân cô đã đỡ, nhưng còn đi tập tễnh. Cô không được mời. Cô cũng không được đuổi. Như hôm họp biên bản ở lớp học của cô tháng Mười một.
Hôm ấy là thứ Năm, mùng hai tháng Bảy. Sáu ngày sau đêm lũ.
Sáu ngày ấy, Lùng Phìn sửa lại những gì nước đã phá. Đàn ông xây lại cái sân nhà bà Dế, dựng lại cái chuồng lợn. Đàn bà đi nhặt nhạnh những gì còn trôi dạt ven suối. Bố cô và mấy người Lùng Phìn nối lại đường ống nước tự chảy về điểm trường bằng mấy đoạn ống nhựa Chiêng chở lên. Lớp hè của Mơ nghỉ ba ngày, rồi học lại, chín đứa trẻ năm tuổi ngồi trên những cái ghế bố cô vừa sửa, đọc theo cô từng chữ tiếng Kinh, a, ă, â. Chở, nghỉ hè, sáng nào cũng đến ngồi bàn cuối, khi cô quay đi viết bảng thì Chở lẳng lặng đứng dậy, cầm tay một đứa em, chỉ cho nó cầm bút đúng cách.
Còn Chiêng thì ở dưới lòng suối, ở trên khe Tả Pờ, cả sáu ngày.
Anh kể với cô từng mẩu, những lúc anh đi qua trường, những lúc anh dừng lại uống bát nước chè. Không như ngày trước, anh không ngồi lâu. Nhưng anh kể. Như thể kể cho cô nghe là một phần của công việc, như ghi biên bản.
Nước lũ đã phá sạch đám cây bụi dưới khe, cuốn trôi lớp cành lá người ta phủ lên. Bây giờ đứng từ mép khe nhìn xuống, thấy rõ cả đáy. Thấy lối người ta đã đi xuống: những bậc đất xẻ vào vách, những cọc tre đóng làm tay vịn, sợi dây dù xanh anh đã thấy hồi tháng Tư. Thấy một cái lán tạm dưới đáy khe, chỗ một mỏm đá nhô ra che mưa, đã bị nước cuốn mất một nửa. Còn trơ mấy cột gỗ, một cái bạt rách, một cái can xăng rỗng, và một lớp mùn cưa dày dưới nền.
Ngoài ba mươi bảy khúc trôi xuống bãi suối, dưới đáy khe còn mười lăm khúc kẹt giữa những tảng đá, không trôi được. Năm mươi hai khúc tất cả. Tính ra là mười bốn cây pơ mu cổ.
– Mười bốn cây, – Chiêng nói, ngồi ở bậc cửa lớp học, bát nước chè trong tay. – Sáu cây đêm mười lăm tháng Hai, còn tám cây thì anh không biết họ hạ từ bao giờ. Trong số cây đã chết đứng ở Phìn Pó, anh đi đếm lại, đúng là thiếu tám cây so với hồi tháng Ba. Họ hạ dần, đêm mưa, đêm nào anh không ở trên ấy.
– Còn mấy cái dấu?
Anh nhìn cô. Rồi anh nhìn sang gian ngoài, chỗ bố cô đang bào một tấm ván làm cầu tạm qua suối.
– Khúc nào cũng có, – anh nói. – Đóng ở đầu khúc, chỗ vết cưa. Còn mới. Có khúc vừa đóng dấu xong là lăn xuống khe luôn, vết đốt còn đen như than.
Bây giờ, trên bờ suối, ông Lượng vẫn nói. Ông ta nói với hai cán bộ công an tỉnh, giọng vẫn nhẹ nhàng, có chỗ ngừng. Ông ta nói công ty đã báo cáo về những kẻ phá hoại từ tháng Mười một năm ngoái, đã treo thưởng, đã hợp tác. Ông ta nói số gỗ này rõ ràng là của những kẻ ấy, chặt trộm rồi giấu dưới khe, gặp lũ thì trôi ra. Ông ta nói công ty là nạn nhân, mất gần nửa năm không được hoạt động. Ông ta nói cái dấu đốt trên gỗ thì ai mà chẳng đốt được, một cái búa sắt nung lên là xong.
Rồi Chiêng nói. Anh đứng dưới lòng suối, cạnh khúc gỗ số bốn, khúc có vệt sơn đỏ trên thân.
– Khúc này có số mười một bằng sơn đỏ, – anh nói, giọng đều, đủ to cho cả bờ suối nghe. – Khúc kia số ba. Khúc kia số chín. Sáu khúc gốc có sơn đỏ đánh số. Đấy là số kỹ sư Lộc của công ty đánh lên mười bốn cây trong danh sách xin tận thu hồi tháng Mười năm ngoái. Biên bản có ảnh, có tọa độ, có chữ ký của kỹ sư.
Ông Lượng im một giây.
– Thì kẻ phá hoại chặt đúng những cây đã chết. Cây chết thì dễ chặt.
– Kẻ phá hoại có máy cưa xăng, có búa đóng dấu, có bạt, có can xăng, có lối xuống khe đóng cọc tre chắc chắn, – Chiêng nói. – Kẻ phá hoại biết đêm nào Hạt rút người xuống chữa cháy. Kẻ phá hoại làm cái lán dưới khe cách cổng lô sâm của công ty chưa đến một cây số đường chim bay.
Một trong hai cán bộ công an tỉnh, người đàn ông gầy, đeo kính, ghi chép gì đó vào sổ. Ông Lượng nhìn Chiêng. Lần này ông ta không cười.
– Anh kiểm lâm có bằng chứng thì đưa cho cơ quan điều tra. Tôi không tranh luận ở bờ suối.
Ông ta quay đi, lên chiếc xe bán tải trắng. Gã lái xe cao lêu nghêu đã nổ máy sẵn. Chiếc xe bò lên dốc, về phía con đường đất dẫn vào lô sâm.
Chiều hôm ấy, anh cán bộ công an tỉnh đeo kính đến nhà bà Ỏn.
Mơ không có ở đấy. Hiên kể lại với cô qua điện thoại tối hôm ấy, giọng hồi hộp như kể phim. Anh công an xin phép bà Ỏn được chụp ảnh tấm kệ thờ. Bà Ỏn đứng nhìn rất lâu, rồi bà tự tay nhấc tấm ảnh bố Chiêng xuống, bát hương xuống, chai rượu xuống, đặt lên cái mâm, rồi đứng sang một bên. Anh công an chụp ảnh cái dấu đốt ở mép phải tấm ván, đo bằng thước, chụp cận bằng một cái máy có ống kính to. Rồi anh ta mở máy tính bảng, so với ảnh chụp những cái dấu trên đầu khúc gỗ ở bãi suối.
– Chị ơi, giống hệt, – Hiên nói. – Không phải giống kiểu cùng hình đâu. Giống đến từng tí. Cái mũi tên ở trên kệ nhà em có một chỗ sứt nhỏ ở đầu nhọn, bé như hạt gạo, chắc cái búa đóng dấu bị mẻ. Trên mấy khúc gỗ mới cũng có cái chỗ sứt ấy. Đúng chỗ ấy. Anh công an bảo là cùng một cái búa. Mười bảy năm rồi mà vẫn cùng một cái búa.
Mơ ngồi trên mỏm đá sau trường, nghe Hiên kể, nhìn sang Phìn Pó trong ánh chiều. Cùng một cái búa. Có ai đó đã giữ cái búa ấy mười bảy năm, như bố cô giữ tấm ván.
– Mẹ em làm gì? – cô hỏi.
– Anh công an đi rồi thì mẹ em đặt lại ảnh bố em lên. Thắp hương. Rồi mẹ em ngồi xuống bên khung cửi, dệt đến tối, không nói câu nào. – Hiên ngừng một chút. – Chị ơi. Anh Chiêng có nói gì với chị không?
– Không em ạ.
– Anh ấy cũng không nói gì với em. – Hiên thở dài. – Anh em em giống nhau, chỉ có em là biết nói.
Sáng thứ Bảy, Vư đến tìm Mơ.
Anh ta đến lúc cô đang dọn lớp sau buổi học. Anh ta đứng ở cửa lớp, cái áo khoác có vạch phản quang khoác trên vai, như hôm cô mang túi cam sang xin lỗi. Anh ta không vào. Anh ta nhìn quanh sân, rồi mới bước một bước qua bậc cửa, rút trong túi áo ra một vật nhỏ, đặt lên bàn giáo viên.
Một cái thẻ nhớ điện thoại, bọc trong một mẩu ni lông.
Mai đi theo sau chồng, đứng ở cửa. Chị dịch, giọng nhỏ:
– Anh ấy bảo: cái này là của cái camera ở cổng lô sâm. Ông Trụ lắp camera, ghi vào cái thẻ trong máy, cứ đầy thì nó tự xóa cái cũ, ghi đè lên. Từ tháng Mười hai, từ hôm cô sang xin lỗi, anh ấy cứ một tuần lại tháo cái thẻ ra, chép hết vào cái điện thoại cũ, chép sang thẻ này, rồi lắp lại. Ông Trụ không biết.
Mơ nhìn cái thẻ nhớ nhỏ xíu trên bàn.
– Sao anh ấy làm thế?
Vư nói một câu. Mai nhìn chồng, rồi nhìn cô, rồi dịch:
– Anh ấy bảo: hôm cô nghi anh ấy, anh ấy giận. Rồi anh ấy nghĩ: cô giáo nghi sai thì cô giáo sang xin lỗi. Người nghi đúng thì không ai sang xin lỗi ai. Anh ấy muốn có cái gì để sau này người ta không nghi sai nữa.
Vư nói thêm một câu ngắn, mắt nhìn xuống đất.
– Anh ấy bảo: trong ấy có đêm cô xuống trạm y tế. Có người đi bộ ra cổng lúc ba giờ kém mười, đi về lúc bốn giờ kém. Cầm theo cái túi. – Mai ngừng. – Và có cái xe tải xanh. Nhiều đêm. Cô đưa anh Chiêng. Anh ấy không dám đưa anh Chiêng.
– Vì sao?
Vư ngẩng lên, nhìn cô. Rồi anh ta nói, bằng tiếng Kinh, lơ lớ, rõ từng chữ:
– Xe anh Pấng.
Chiều hôm ấy, Tủa ngồi ở gian ngoài với ông Bảo, bào một tấm ván làm cầu tạm. Mơ đi qua, nghe thằng bé kể chuyện, kể một mạch, vô tư như kể chuyện đi bắt cá. Hôm thứ Năm trước lũ, nó đi với bà Dế lên rìa rừng phía trên lô sâm hái lá thuốc. Lúc chiều tối, trên đường về, nó thấy cái xe tải xanh của chú Pấng đỗ ở chỗ cuối con đường đất, chỗ gần mép khe. Chú Pấng đứng hút thuốc cạnh xe. Có cả cái ông mũ cam. Bà Dế kéo nó đi, bảo không được nhìn.
– Chú Pấng nhìn thấy con, – Tủa nói, tay vẫn đẩy cái bào. – Chú Pấng vẫy con. Chú Pấng bảo con về đi kẻo tối.
Mơ đứng im ở cửa gian ngoài. Bố cô ngẩng lên nhìn cô, cái nhìn của người đã hiểu.
Tối thứ Bảy, cô đi bộ ra cái lán kiểm lâm nhỏ ở đầu bản trên, tay cầm cái thẻ nhớ bọc ni lông. Chiêng đang ở đấy, một mình, ngồi bên cái bàn gỗ ọp ẹp, cái máy tính xách tay mở trước mặt, ánh màn hình xanh nhợt trên mặt anh.
Cô đặt cái thẻ nhớ xuống cạnh máy tính. Cô kể lại lời Vư. Lời Tủa. Cô kể chậm, rõ, không bỏ chữ nào. Anh nghe, không nhìn cô.
Rồi anh cắm cái thẻ vào máy.
Hai người ngồi xem đến gần mười một giờ. Những đoạn video đen trắng, nhòe, ghi từ một cái camera gắn trên cột cổng lô sâm, có dòng ngày giờ chạy ở góc. Phần lớn là trống không. Cổng gỗ. Con đường đất. Con chó vàng nằm. Vư ngồi trong chòi gác hút thuốc. Rồi những đêm có xe. Một chiếc xe tải đi vào cổng, không bật đèn pha, chỉ có một vệt sáng nhỏ dưới gầm. Thùng xe phủ bạt. Đèn ở cổng soi lên cabin một giây. Đủ để thấy màu sơn. Xanh lục. Đủ để thấy cái biển số. Đủ để thấy người cầm lái, áo khoác có vạch phản quang, mũ trùm đầu, quay mặt về phía camera đúng một giây khi xe qua cổng.
Mơ đếm. Mười một đêm. Đêm hai mươi chín tháng Mười hai. Đêm mười chín tháng Một. Đêm mười lăm tháng Hai. Nhiều đêm tháng Ba, tháng Tư, tháng Năm.
Và đêm mười sáu tháng Mười hai. Hai giờ năm mươi hai phút. Một người đàn ông cao, áo khoác vạch phản quang, mũ trùm đầu, đi bộ ra cổng, đi về phía bản. Bốn giờ kém hai phút, người ấy đi về, tay cầm một cái túi nhựa. Lúc qua cổng, người ấy ngẩng lên, và ánh đèn rọi vào mặt. Gã lái xe bán tải cao lêu nghêu.
Chiêng không nói gì. Anh tua lại đoạn có chiếc xe tải xanh lục. Tua lại lần nữa. Dừng hình ở cái giây người lái xe quay mặt về phía camera. Phóng to. Nhòe. Nhưng đủ.
Anh ngồi nhìn cái hình nhòe ấy rất lâu.
Rồi anh rút điện thoại ra. Anh bấm một số. Mơ nhìn thấy tên trên màn hình: Anh Pấng.
Không có tiếng chuông. Chỉ có giọng một người đàn bà ghi âm sẵn, đều đều, lạnh lẽo: thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được.
Anh bấm lại. Lại giọng ấy.
Anh đặt điện thoại xuống bàn. Ngoài kia, tiếng nhánh suối chảy xiết sau lũ vẫn ào ào trong đêm.
— Hết chương 28 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe