AI Truyện
Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn

💞 Ngôn tình

Trung thu không có đèn ông sao

Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn · Chương 5/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 5: Trung thu không có đèn ông sao

– Đèn ông sao à? – Chiêng hỏi lại, cái dao quắm vẫn giơ lửng giữa không trung. – Cô định bảo tôi chặt một cây tre rồi uốn thành ngôi sao năm cánh?

– Thì anh uốn được không?

– Uốn được. Nhưng cô có biết tre bánh tẻ mà uốn thì nó gãy không?

– Thế anh chặt tre non.

– Tre non thì nó cong như cái lưng bà Dế.

Mơ đứng giữa bụi tre đầu bản, tay cầm cuộn giấy bóng kính đỏ, cuộn giấy bóng kính vàng, một lọ hồ dán và bản vẽ chiếc đèn ông sao cô tìm trên mạng từ tuần trước, lúc còn sóng. Bản vẽ có đủ các bước: chẻ nan, uốn khung, buộc chỉ, dán giấy, gắn tua rua. Ở Hưng Yên, hồi bé, bố cô làm cho cô cái đèn ông sao mỗi năm, nan tre chẻ đều như đũa, giấy bóng kính đỏ căng phẳng, cắm một cây nến ở giữa, lắc lư trên đầu cây sào. Cô đã định làm cho mười bảy đứa học trò mười bảy cái như thế.

Chiêng hạ dao xuống. Anh cầm bản vẽ, xem kỹ, rồi trả lại cho cô.

– Cô có mấy ngày?

– Hôm nay là thứ Bảy. Thứ Hai là Trung thu.

– Hai ngày. Mười bảy cái đèn ông sao. – Anh nghĩ một lúc. – Cô có biết bọn trẻ trên này đã ai cầm cái đèn ông sao bao giờ chưa?

– Chưa à?

– Chưa. Thế nên làm cái gì nó cũng là đèn ông sao.

Anh chặt bốn cây tre, vác về sân trường, chẻ thành nan bằng một con dao nhỏ khác, nhanh đến mức Mơ chỉ kịp thấy những sợi nan trắng ngà rơi xuống chân anh như mưa. Thầy Khua đi qua, nhìn một lúc, rồi đi về nhà lấy một cuộn dây gai. Mai mang ra một nồi cơm nguội để làm hồ. Đến trưa thì bọn trẻ biết, kéo nhau đến, đứa đứng xem, đứa ngồi xổm chẻ nan theo Chiêng, đứa cầm nan quất nhau.

Đèn làm ra không có cái nào là ngôi sao. Có cái hình con cá, vì Tủa bảo cá dễ hơn sao. Có cái hình cái lồng gà, vì thằng Sử bảo nó chỉ biết đan lồng gà. Có cái tròn như quả bưởi, của Chở, nan đều, giấy dán phẳng, đẹp nhất lớp. Có cái méo xệch không ra hình gì, của Lềnh, đứa nhỏ con nhất lớp Hai, ho húng hắng suốt buổi, nhưng cứ ôm cái đèn méo ấy như ôm báu vật. Pà làm cái đèn hình bông hoa, năm cánh, dán giấy vàng. Mơ nhìn kỹ thì hóa ra nó chính là ngôi sao, chỉ có điều cánh tròn chứ không nhọn.

– Pà làm ngôi sao đấy à?

– Hoa dã quỳ, – Pà nói. Con bé bây giờ đã chịu nói, mỗi ngày dăm câu, câu nào cũng ngắn và chắc nịch.

Còn Dình thì không làm đèn. Dình ngồi vẽ những người đang làm đèn.

Chiều thứ Hai, mùng sáu tháng Mười, rằm tháng Tám. Mơ dạy hết buổi sáng, buổi chiều cho cả lớp ra sân dọn cỗ. Cỗ có mấy quả bưởi Mai xin được ở Nà Hừ, một nải chuối, hai gói bánh quy, mấy cái bánh nướng nhỏ Mơ đặt mua từ dưới xuôi, ship lên bưu điện xã, Chiêng mang lên giúp. Và một rổ ngô nếp luộc, của mẹ Chở gửi. Mơ bày cỗ trên hai cái bàn học ghép lại, giữa sân, dưới gốc đào. Bọn trẻ đứng quanh nhìn, không đứa nào dám động.

Trăng lên lúc sáu giờ. Mơ chưa bao giờ thấy trăng lên như thế. Ở dưới quê, trăng rằm lên sau lũy tre, sau mái nhà, lúc nhìn thấy đã cao rồi. Ở đây, trăng mọc từ sau đỉnh núi phía đông, tròn, to, màu cam như lòng đỏ trứng gà, mép trên vừa nhô ra là cả bản sáng bừng. Những mái nhà gỗ pơ mu xám bạc ửng lên. Những thửa ruộng đã gặt trơ gốc rạ lấp lánh nước. Bọn trẻ ồ lên một tiếng.

Mai và thầy Khua thắp nến vào đèn. Mười lăm cái đèn, cá có, lồng gà có, quả bưởi có, bông dã quỳ có, cái đèn méo xệch của Lềnh có, cùng lúc sáng lên trên sân trường. Thầy Khua thổi khèn. Tiếng khèn trầm, ngân, lúc dồn dập lúc kéo dài, và bọn trẻ cầm đèn đi vòng quanh sân, không theo thứ tự nào, đứa đi nhanh đứa đi chậm, đứa vừa đi vừa nhảy. Người trong bản kéo nhau ra xem, đứng kín hàng rào. Trưởng bản Sính đứng ở cổng, chắp tay sau lưng, cười. Mấy bà mẹ chỉ trỏ đèn của con mình.

Mơ đứng giữa sân, thấy mắt mình cay. Lần này không phải vì ông Lượng.

Chiêng ngồi trên bậc cửa lớp học, tay cầm một miếng bưởi. Mơ đến ngồi cạnh anh. Hai người nhìn bọn trẻ đi vòng quanh sân.

– Anh làm đèn giỏi thế. Ai dạy anh?

– Bố tôi.

– Người Thái cũng làm đèn Trung thu à?

– Không. Bố tôi đi học dưới xuôi về, lớp kiểm lâm. Ông thấy trẻ con dưới ấy làm thì về làm cho tôi. Cả bản Nà Hừ chỉ có mình tôi có đèn. Bọn bạn ghen, đánh tôi một trận.

Mơ bật cười. Chiêng cũng cười.

– Ông thích trăng rằm lắm, – anh nói tiếp. – Rằm nào ông cũng đi tuần đêm. Ông bảo đêm trăng sáng thì người ta không dám vào rừng, nhưng người ta không dám vào rừng thì mình mới đi được cho thong thả. Ông dắt tôi theo. Đi đến chỗ nào nhìn xuống được thì ông ngồi, ông kể cây này tên gì, cây kia bao nhiêu năm. Ông bảo cây pơ mu sống được cả nghìn năm, còn người sống được trăm năm là giỏi. Thế nên người phải giữ cây, chứ không phải cây giữ người.

Anh nói một mạch như thế, rồi im, như tự ngạc nhiên vì mình nói nhiều. Mơ không nói gì, sợ nói gì thì anh lại thôi.

– Còn bố cô? – anh hỏi.

– Bố em làm mộc.

– Đóng cái hộp ấy.

– Vâng. – Cô ngồi bó gối. – Nhưng ngày xưa bố em lái xe. Lái xe tải, chạy đường Tây Bắc. Hồi em bé tí, bố đi một chuyến là nửa tháng. Mỗi lần về bố mang cho em một cái gì đấy. Có lần là cái vòng bạc. Có lần là một túi hạt dẻ. Có lần là một con búp bê vải người Mông, váy xòe, em giữ đến giờ. Bố kể chuyện các con đèo suốt. Đèo này dài bao nhiêu cây, đèo kia có quán bán cháo ngon, đèo nọ có sương mù dày đến mức phải mở cửa xe thò đầu ra nhìn.

– Rồi sao?

– Rồi tự nhiên bố thôi. Bán xe. Năm em học lớp Một. Mẹ em bảo bố mệt. Bố mở xưởng mộc sau nhà, từ đấy không đi đâu xa nữa, không kể chuyện đèo nữa. Lúc em bảo em xin lên Lai Châu dạy, bố không nói gì. Cả tuần bố không nói gì. Rồi hôm em đi, bố đưa em cái hộp.

– Gỗ pơ mu.

– Vâng. Em cũng không biết bố lấy đâu ra. Ở dưới quê không có gỗ ấy.

Chiêng nhìn cô một lúc. Rồi anh nhìn lên trăng.

– Ngày xưa xe đường dài chở gỗ về xuôi nhiều, – anh nói, giọng bình thường. – Có khi bố cô mua lại của ai được một mẩu.

– Chắc thế.

Có một bàn tay nhỏ kéo tay áo Mơ. Dình. Nó cầm cái hộp gỗ của cô, chắc vừa lấy trong lớp, cô để hộp phấn trên bàn giáo viên. Nó cầm cái hộp bằng hai tay, như cầm một cuốn sách quý, rồi chìa ra trước mặt cô cùng một mẩu than.

– Cô cho con vẽ lên nắp. Con vẽ cái trăng.

– Không được đâu Dình. Hộp của bố cô đóng.

Dình nhìn cái hộp. Nhìn chữ "Mơ" khắc trên nắp. Mặt nó xị xuống, nhưng không cãi. Mơ thấy thương. Cô lấy trong túi áo ra mấy tờ giấy trắng gấp tư, loại cô vẫn mang theo người để ghi chép.

– Vẽ vào giấy đi, rồi cô dán lên tường lớp mình. Tranh cái trăng của Dình to nhất lớp.

Dình cầm tờ giấy, ngồi bệt xuống đất, ngay chân Chiêng, ngửa mặt nhìn trăng rồi cúi xuống vẽ. Mơ cầm cái hộp, mân mê. Dưới ánh trăng, gỗ hộp có màu như mật. Cô kéo nắp ra một chút. Bên trong là những viên phấn trắng, phấn màu, và một tập nhãn dán hình ngôi sao cô mua để thưởng học trò. Lót ở đáy hộp là miếng nỉ xanh lá cây cô cắt từ cái áo khoác cũ, dán vào bằng keo sữa, cho phấn khỏi lăn lộc cộc. Mùi gỗ dậy lên, át cả mùi bưởi.

– Bố cô đóng khéo, – Chiêng nói. – Mộng ghép không cần đinh.

– Bố em bảo đinh thì gỉ.

– Ừ. Gỗ này không cần đinh. Gỗ này cái gì cũng sống lâu hơn người.

Bọn trẻ đã đi vòng quanh sân đến lần thứ tám thì có một chuyện mà sau này Mơ nhớ mãi.

Tủa đến muộn.

Suốt buổi chiều nó không có mặt. Mơ hỏi, bọn bạn bảo Tủa theo bố lên núi từ sáng. Lúc chiều Mai đã định thôi, cái đèn hình con cá của nó cứ để trong lớp vậy. Bây giờ, lúc trăng đã lên cao, trắng hơn, nhỏ hơn, nó lù lù hiện ra ở cổng trường. Áo bẩn. Chân đất. Má bên trái sưng vù, đỏ ửng lên cả dưới ánh trăng.

Nó không vào sân. Nó đứng ở cổng, nhìn những cái đèn đang đi vòng quanh, nhìn đĩa bánh nướng, nhìn cô giáo. Mơ chạy ra.

– Tủa, mặt con làm sao thế?

Tủa không nói. Mắt nó đỏ nhưng không khóc. Nó là đứa con trai bắn vỡ bốn cái cửa sổ, chưa bao giờ khóc trước mặt ai.

Chiêng đi tới. Anh ngồi xuống cho bằng tầm mắt thằng bé, hỏi bằng tiếng Mông, giọng nhỏ. Tủa đáp, ngắn, rồi lại im. Chiêng hỏi thêm. Tủa lắc đầu.

– Bố nó tát, – Chiêng nói, không quay sang cô. – Nó theo bố lên chỗ làm, bố nó không cho, đuổi về. Nó không về, nó trốn trong bụi xem. Bố nó bắt được.

– Sao lại đánh con thế được...

– Bố nó sợ. – Chiêng nói câu ấy chậm, nhìn thẳng vào thằng bé. – Bố nó không ác đâu. Bố nó sợ.

– Sợ cái gì?

Chiêng không trả lời. Anh nhìn xuống tay Tủa. Thằng bé nắm chặt tay phải, nắm từ lúc đến, giấu ra sau lưng. Chiêng chìa tay ra, không nói gì. Tủa ngập ngừng mãi, rồi mở nắm tay.

Trong lòng bàn tay nó là một dải vỏ cây, dài cỡ một gang tay, rộng hai đốt ngón. Mặt ngoài nâu xám, sần sùi, có rêu. Mặt trong còn tươi, màu hồng nhạt như thịt, ẩm ướt, còn dính những sợi mỏng như tơ. Cả dải vỏ tỏa ra một mùi thơm hắc, ngòn ngọt, sực nức đến mức Mơ đứng cách hai bước vẫn ngửi thấy.

Cô biết mùi ấy. Cô vừa ngửi nó trong cái hộp đựng phấn.

– Pơ mu, – Chiêng nói. Giọng anh không còn là giọng của người vừa kể chuyện bố mình dưới trăng. – Vỏ tươi. Bóc hôm nay.

Tủa nói một câu bằng tiếng Mông. Chiêng ngẩng lên nhìn Mơ.

– Nó bảo nó nhặt ở dưới gốc cây, chỗ bố nó làm. Ở đấy nhiều lắm. Nó nhặt về cho cô, vì cô có cái hộp thơm. Nó muốn cho cô thêm cái thơm.

Mơ không biết nói gì. Cô cầm lấy dải vỏ cây trong tay thằng bé. Nó mềm, lạnh, và ẩm, như còn sống.

— Hết chương 5 —

Mục lục Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn

  1. 1Hộp gỗ thơm trong bùn11 phút
  2. 2Khai giảng thiếu một đôi dép11 phút đọc
  3. 3Lớp học trên ruộng bậc thang11 phút đọc
  4. 4Đứa trẻ không nói tiếng Kinh10 phút đọc
  5. 5Trung thu không có đèn ông sao10 phút đọc
  6. 6Nhà sàn ở bản Nà Hừ11 phút đọc
  7. 7Những cây chết đứng11 phút đọc
  8. 8Mùa gặt cuối cùng10 phút đọc
  9. 9Vòng thắt lưng dưới lớp rêu12 phút đọc
  10. 10Biên bản không có chữ ký11 phút đọc
  11. 11Bốn mươi hai cái chăn11 phút đọc
  12. 12Băng giá trên ruộng bậc thang10 phút đọc
  13. 13Đường xuống trạm y tế12 phút đọc
  14. 14Ai lấy tranh của Dình10 phút đọc
  15. 15Tết Mông11 phút đọc
  16. 16Đêm ông Công ông Táo11 phút đọc
  17. 17Bánh chưng bên sông10 phút đọc
  18. 18Người trong cabin10 phút đọc
  19. 19Giao thừa bên xưởng mộc12 phút đọc
  20. 20Hoa mận trắng ở Lùng Phìn10 phút đọc
  21. 21Lời đe doạ không lên giọng12 phút đọc
  22. 22Hội hoa ban10 phút đọc
  23. 23Dình bỏ học11 phút đọc
  24. 24Mưa đầu mùa10 phút đọc
  25. 25Dấu búa dưới lớp nỉ10 phút đọc
  26. 26Người đàn ông dưới chân đèo11 phút đọc
  27. 27Đêm lũ ống11 phút đọc
  28. 28Những khúc gỗ biết nói11 phút đọc
  29. 29Người anh họ10 phút đọc
  30. 30Chuyến xe cuối cùng10 phút đọc
  31. 31Đèo Pha Lìn, lần thứ hai10 phút đọc
  32. 32Lời khai10 phút đọc
  33. 33Bữa cơm hai nhà10 phút đọc
  34. 34Lá đơn chuyển trường10 phút đọc
  35. 35Cây pơ mu con10 phút đọc
  36. 36Mùa lúa chín lại10 phút đọc

Về truyện này

Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →