AI Truyện
Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn

💞 Ngôn tình

Đứa trẻ không nói tiếng Kinh

Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn · Chương 4/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Đứa trẻ không nói tiếng Kinh

Ngày thứ mười hai của năm học, Giàng Thị Pà vẫn chưa nói với cô giáo một chữ nào, nhưng sáng nào cũng để lên bàn giáo viên một bông hoa dại.

Hôm thì bông dã quỳ vàng, hôm thì một chùm hoa tầm xuân trắng, hôm thì chỉ là một cành cỏ lau đã trổ bông, mềm như lông gà. Pà đến lớp sớm nhất, sớm hơn cả Dình, đặt bông hoa lên bàn rồi về chỗ ngồi, hai tay đặt lên đùi, nhìn thẳng lên bảng. Mơ vào lớp, cầm bông hoa lên, nói "Cảm ơn Pà". Pà nhìn cô. Không gật. Không cười. Đôi mắt con bé to và đen, có một vệt nâu ở lòng đen bên trái như giọt cà phê rơi vào.

Đến giờ đọc bài, cả lớp đọc đồng thanh, Pà mấp máy môi nhưng không ra tiếng. Đến giờ toán, Pà làm bài đúng hết, chữ số tròn trịa, nhưng gọi lên bảng thì đứng im, phấn cầm trong tay, nhìn cô. Mơ thử hỏi riêng, hỏi nhỏ, hỏi lúc ra chơi, hỏi lúc tan học. Pà nhìn.

– Nó hiểu hết đấy, – Mai nhắc lại lần thứ ba trong tuần, ngồi bên bếp lửa, tay đảo nồi thắng cố. – Bài nó làm đúng hết còn gì.

– Em biết nó hiểu. Em muốn nó nói.

– Nó nói tiếng Mông với bà nó. Nói với bọn bạn. – Mai múc cho Mơ một bát nước dùng, mỡ nổi vàng, mùi thảo quả thơm lừng. – Tiếng Kinh thì nó không nói với ai. Năm ngoái nó còn nói. Từ Tết thì thôi.

– Tết có chuyện gì hả chị?

– Tết mẹ nó về. Ăn Tết xong mẹ nó lại đi. Lúc mẹ nó đi, nó chạy theo xe đến tận dốc Đá Trắng. – Mai thổi lửa. – Mẹ nó nói tiếng Kinh với người lái xe. Nói giá vé, nói đi Bắc Ninh. Có lẽ con bé ghét tiếng ấy.

Mơ ngồi im, cầm bát nước dùng nóng giữa hai lòng bàn tay.

Thứ Hai tuần thứ ba, hai mươi hai tháng Chín, sau giờ học, cô nhờ Mai dẫn đến nhà bà ngoại Pà.

Nhà bà Lầu Thị Chía ở cuối bản, chỗ con đường đất đâm vào bìa rừng. Nhà trình tường đất, vách đã nứt một đường chạy chéo từ mái xuống, người ta chèn đá vào. Trong nhà tối, chỉ có ánh lửa bếp và một vệt sáng lọt qua cửa. Bà Chía ngoài sáu mươi, nhỏ thó, lưng còng, đầu quấn khăn, tay đang se sợi lanh. Thấy cô giáo đến, bà đứng dậy, kéo cái ghế gỗ thấp duy nhất trong nhà đặt cạnh bếp, phủi bằng vạt áo.

Mai nói chuyện với bà bằng tiếng Mông, dịch lại từng câu. Bà Chía không nói tiếng Kinh. Bà kể bố Pà mất năm Pà bốn tuổi, ốm, đi viện không kịp. Mẹ Pà, chị Sùng Thị Lia, ở vậy được hai năm thì nợ nhiều quá, phải xuống làm công nhân ở một khu công nghiệp dưới Bắc Ninh, làm cái gì đó với dây điện. Mỗi tháng chị gửi về ít tiền. Mỗi tháng chị gọi một lần, tối mùng một, vào số điện thoại của trưởng bản, vì nhà bà không có điện thoại. Tối mùng một là cả bà cả cháu lên nhà trưởng bản ngồi chờ.

– Pà có nói chuyện với mẹ không bà?

Mai hỏi lại. Bà Chía lắc đầu. Bà nói một câu dài. Mai im lặng một chút rồi mới dịch.

– Bà bảo: mẹ nó nói, nó nghe. Mẹ nó hỏi, nó gật. Mẹ nó khóc, nó cũng gật. Điện thoại thì đâu có nhìn thấy gật.

Pà ngồi ở góc nhà, sau lưng bà, tay ôm con mèo mướp, mắt nhìn ra cửa.

Lúc ra về, Mơ đứng lại ở ngưỡng cửa. Cô không biết mình định nói gì. Rồi cô nhớ ra một chuyện Mai từng kể: Pà hát hay nhất bản. Hát tiếng Mông. Mùa xuân con bé ngồi trên đồi hát, người đi nương dừng lại nghe.

– Bà ơi, – cô nói, nhờ Mai dịch. – Mẹ Pà có hay hát cho Pà nghe không ạ?

Bà Chía ngừng tay se lanh. Lần đầu tiên bà nhìn thẳng vào cô giáo.

Mùng một tháng Tám âm lịch năm nay rơi đúng vào hôm ấy. Tối đó chị Lia gọi về máy trưởng bản như mọi tháng, và sáng hôm sau Mai kể lại: Pà vẫn chỉ gật. Cái kế hoạch Mơ nghĩ ra đơn giản đến mức cô ngượng không dám nói với ai, trừ Mai. Cô xin số của chị Lia từ trưởng bản. Cô nhắn tin, một tin dài, xóa đi viết lại bốn lần. Cô giới thiệu mình là cô giáo của Pà. Cô nói Pà học giỏi, chăm, ngoan. Cô nói Pà không chịu nói tiếng Kinh ở lớp. Rồi cô hỏi: chị có thể gọi cho Pà thêm một lần vào tối thứ Năm, vào máy em, và hát cho con một bài được không. Bài gì cũng được. Bài chị hay hát ru con hồi bé.

Tin nhắn gửi đi lúc mười giờ đêm thứ Ba, trên mỏm đá sau trường, một vạch sóng.

Cả ngày hôm sau không có trả lời. Tối thứ Tư, lúc Mơ đã nghĩ chắc chị Lia thấy phiền, điện thoại rung lên. Một tin ngắn, tiếng Kinh, không dấu: "Thu nam 8h toi. Co cho Pa cam may. Cam on co giao".

Tối thứ Năm, hai mươi lăm tháng Chín, bảy giờ bốn mươi lăm, Mơ dắt Pà ra mỏm đá sau trường. Bà Chía đi theo, ngồi trên một phiến đá thấp, quấn khăn kín cổ. Mai cũng đến, đứng xa xa. Trời trong. Vầng trăng non mảnh như cái móng tay đã sắp lặn sau núi. Sao dày đặc như ai rắc muối lên tấm vải đen.

Tám giờ kém hai phút, điện thoại đổ chuông.

Mơ bấm nghe, bật loa ngoài, đặt điện thoại vào hai bàn tay Pà. Từ cái loa nhỏ xíu, giữa tiếng máy móc ầm ì và tiếng ai đó gọi nhau rất xa, một giọng đàn bà vang lên, nói tiếng Mông, nhanh, run. Pà ngồi im, hai tay nâng chiếc điện thoại như nâng một con chim non.

Rồi đầu dây bên kia im. Một lúc. Có tiếng hắng giọng.

Rồi chị Lia hát.

Mơ không hiểu một chữ nào. Nhưng cô hiểu đó là một bài hát ru, vì giai điệu cứ lặp đi lặp lại, lên rồi xuống, xuống rồi lên, như cái võng đưa, như người ta đi trên một con đường dốc quen thuộc. Giọng chị Lia không còn trong, có chỗ khàn, có chỗ hụt hơi, chắc vì đang đứng ở một hành lang ký túc xá công nhân nào đó, giữa tiếng máy và tiếng người. Bà Chía ngồi trên phiến đá, cúi đầu, vai rung lên.

Pà vẫn ngồi im. Rồi đến một đoạn, môi con bé mấp máy. Rồi có tiếng. Rất nhỏ. Rồi to dần. Pà hát theo mẹ.

Hai giọng hát, một giọng trong veo, một giọng khàn. Một ở mỏm đá trên núi Lùng Phìn, một ở đâu đó dưới đồng bằng cách mấy trăm cây số. Lúc đầu lệch nhau, lệch cả nhịp lẫn chữ, rồi khớp dần, khớp dần, như hai bàn tay tìm thấy nhau trong bóng tối.

Bài hát dứt. Đầu dây bên kia có tiếng khóc. Pà thì không khóc. Con bé nói gì đó vào điện thoại bằng tiếng Mông, nói một tràng dài, nhanh, như thác đổ. Rồi nó quay sang Mơ, chìa cái điện thoại ra cho cô, như thể có điều cần cô giáo phân xử.

Và Pà nói, bằng tiếng Kinh, rõ ràng, giọng hơi giận:

– Cô ơi, mẹ con hát sai. Đoạn con chim về tổ, mẹ con quên rồi.

Mơ cầm điện thoại, không biết nói gì. Ở đầu dây bên kia, chị Lia vừa khóc vừa cười, nói tiếng Kinh lẫn tiếng Mông, một câu cô nghe được: "Cô giáo ơi, nó chê tôi."

Sáng thứ Sáu, Pà đặt lên bàn giáo viên một bông dã quỳ, rồi nói:

– Con chào cô.

Cả lớp quay lại nhìn, như vừa nghe một con mèo nói tiếng người. Tủa đánh rơi cái thước kẻ.

Cũng sáng thứ Sáu ấy, Pấng chở gạo hỗ trợ học sinh lên điểm trường.

Anh đỗ chiếc xe tải xanh lục trước cổng, vác từng bao gạo hai lăm cân vào kho, mỗi bao vác qua sân lại kể một chuyện. Chuyện con lợn nhà ai ở Nà Hừ đẻ mười bốn con. Chuyện thằng Chiêng hồi bé leo cây hái mận, ngã gãy tay, không khóc mà đi bộ về nhà, mẹ nó hỏi sao tay sưng thì nó bảo bị ong đốt. Chuyện thầy Đông hồi mới lên đây cũng ngã ở dốc Đá Trắng, ngã ba lần, lần thứ ba ngồi luôn trong bùn hút thuốc.

– Cô giáo đừng buồn. Ai lên Lùng Phìn cũng phải nộp cho dốc Đá Trắng một lần, – Pấng nói, đặt bao gạo cuối cùng xuống, phủi tay. – Thằng Chiêng thì nộp mười lần rồi.

Mơ cười, rót cho anh cốc nước chè. Pấng ngồi xuống bậc cửa kho, uống một hơi, mắt nhìn quanh sân trường. Dình đang ngồi dưới gốc đào vẽ. Pấng huýt sáo gọi nó, nó không ngẩng lên.

– Thằng bé vẽ giỏi nhỉ, – Pấng nói. – Nghe bảo nó vẽ cả người đi rừng ban đêm à? Thằng Chiêng kể với em. Thằng ấy lo hão, đêm nào chẳng có người đi bẫy chim, đi lấy măng.

– Thế ạ?

– Chứ sao. Mà nó thấy ở đâu, cô có biết không? Nương xa của nhà nó ấy à?

Mơ nghĩ một chút. Dình chỉ cho cô trên tờ giấy, hôm cô hỏi lại. Nó chỉ cái sườn núi có cây to nhất, và nói một cái tên.

– Ở dốc Phìn Pó, em nghe Dình nói vậy.

– À, Phìn Pó. – Pấng gật gù, uống nốt cốc chè. – Ừ, đấy thì người ta đi bẫy chim nhiều.

Anh đứng dậy, cảm ơn cốc chè, nháy mắt bảo hôm nào xuống Nà Hừ thì ghé nhà em, vợ em làm cá nướng ngon nhất bản. Chiếc xe tải rú ga, lùi một vòng ở sân, rồi bò lên dốc. Lại lên dốc. Mơ chợt nghĩ: lúc vào bản thì xe đi từ dưới lên, đã chở gạo xong, sao không quay về Nà Hừ? Rồi cô tự trả lời: chắc anh còn chở vật tư cho công ty trên núi. Pấng chạy hợp đồng cho Mây Xanh. Hôm khai giảng anh đã nói thế.

Cả tuần ấy cô không gặp Chiêng. Mai bảo anh đi tuần ở Phìn Pó ba ngày liền, ngủ lại ở lán trên núi. Mai bảo thế với một vẻ mặt mà Mơ không đọc được, nửa lo, nửa như không muốn nói.

Tối thứ Sáu, cô ra mỏm đá, định gọi mẹ, kể chuyện Pà. Điện thoại vừa có sóng thì một tin nhắn hiện lên. Số lạ. Tin nhắn gửi từ ba tiếng trước, giờ mới vào được.

"Chiêng đây. Lên Phìn Pó ba ngày, không thấy gì. Chỉ thấy dấu giày đinh, nhiều. Cô đừng kể chuyện tranh của Dình với ai nữa nhé. Với ai cũng đừng."

Mơ đọc đi đọc lại tin nhắn. "Với ai cũng đừng." Cô nghĩ đến Pấng, ngồi trên bậc kho uống chè, hỏi han vu vơ, cười rất tươi. Rồi cô tự mắng mình. Pấng là anh họ của Chiêng. Chính Chiêng kể cho Pấng nghe chuyện tranh trước. Có gì mà phải lo.

Cô nhắn lại: "Vâng ạ. Hôm nay Pà nói tiếng Kinh rồi anh ạ."

Cô bấm gửi, và đứng đợi trên mỏm đá cho đến khi cái vạch sóng duy nhất nhảy lên, đủ để tin nhắn đi. Rồi cô đợi thêm. Mười phút. Hai mươi phút. Gió lạnh luồn qua cổ áo. Dưới chân núi, ở phía con đường đất dẫn lên dãy núi bên kia, có ánh đèn pha của một chiếc xe tải quét qua những thân cây, rồi tắt.

Điện thoại rung lên. Chỉ hai chữ.

"Giỏi lắm."

Cô không biết anh khen ai. Khen Pà, hay khen cô. Cô đứng trên mỏm đá thêm một lúc nữa, ôm điện thoại vào ngực, và không gọi cho mẹ nữa.

— Hết chương 4 —

Mục lục Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn

  1. 1Hộp gỗ thơm trong bùn11 phút
  2. 2Khai giảng thiếu một đôi dép11 phút đọc
  3. 3Lớp học trên ruộng bậc thang11 phút đọc
  4. 4Đứa trẻ không nói tiếng Kinh10 phút đọc
  5. 5Trung thu không có đèn ông sao10 phút đọc
  6. 6Nhà sàn ở bản Nà Hừ11 phút đọc
  7. 7Những cây chết đứng11 phút đọc
  8. 8Mùa gặt cuối cùng10 phút đọc
  9. 9Vòng thắt lưng dưới lớp rêu12 phút đọc
  10. 10Biên bản không có chữ ký11 phút đọc
  11. 11Bốn mươi hai cái chăn11 phút đọc
  12. 12Băng giá trên ruộng bậc thang10 phút đọc
  13. 13Đường xuống trạm y tế12 phút đọc
  14. 14Ai lấy tranh của Dình10 phút đọc
  15. 15Tết Mông11 phút đọc
  16. 16Đêm ông Công ông Táo11 phút đọc
  17. 17Bánh chưng bên sông10 phút đọc
  18. 18Người trong cabin10 phút đọc
  19. 19Giao thừa bên xưởng mộc12 phút đọc
  20. 20Hoa mận trắng ở Lùng Phìn10 phút đọc
  21. 21Lời đe doạ không lên giọng12 phút đọc
  22. 22Hội hoa ban10 phút đọc
  23. 23Dình bỏ học11 phút đọc
  24. 24Mưa đầu mùa10 phút đọc
  25. 25Dấu búa dưới lớp nỉ10 phút đọc
  26. 26Người đàn ông dưới chân đèo11 phút đọc
  27. 27Đêm lũ ống11 phút đọc
  28. 28Những khúc gỗ biết nói11 phút đọc
  29. 29Người anh họ10 phút đọc
  30. 30Chuyến xe cuối cùng10 phút đọc
  31. 31Đèo Pha Lìn, lần thứ hai10 phút đọc
  32. 32Lời khai10 phút đọc
  33. 33Bữa cơm hai nhà10 phút đọc
  34. 34Lá đơn chuyển trường10 phút đọc
  35. 35Cây pơ mu con10 phút đọc
  36. 36Mùa lúa chín lại10 phút đọc

Về truyện này

Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →