AI Truyện
Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn

💞 Ngôn tình

Đêm ông Công ông Táo

Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn · Chương 16/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 16: Đêm ông Công ông Táo

Cái bệ bê tông vẫn còn đó, bên mép đường đèo, vuông vức như một cái bàn thờ không ai thắp hương, và Chiêng ngồi xuống nó như ngồi xuống một chỗ đã quen mười bảy năm.

Mơ đứng bên cạnh, tay cầm cái đèn pin đã tắt. Đèo Pha Lìn lúc chín giờ đêm không có ai. Không xe. Không người. Chỉ có tiếng gió hun hút qua khe núi, tiếng một con suối nào đó réo rất xa dưới vực, và trên đầu là cả một bầu trời sao, dày đặc, gần đến mức cô tưởng giơ tay lên là chạm. Đêm hai mươi ba tháng Chạp, không có trăng. Mảnh trăng cuối tháng phải gần sáng mới lên.

Cạnh cái bệ bê tông có một cây sau sau. Thân cây đã to bằng bắp đùi người lớn, lá đỏ ối trong ánh đèn pin lúc nãy, những chiếc lá hình bàn tay ba ngón. Dưới gốc cây có một hòn đá phẳng, trên hòn đá có mấy chân hương đã cháy hết, cũ, mới, chồng lên nhau.

– Mẹ anh trồng, – Chiêng nói, chỉ cây sau sau. – Năm sau. Bà bảo trồng một cái cây cho bố anh có chỗ đứng.

Mơ ngồi xuống cạnh anh trên bệ bê tông. Đá lạnh buốt qua lớp quần.

Hôm ấy là thứ Ba, mười tháng Hai năm hai nghìn không trăm hai mươi sáu. Hai mươi ba tháng Chạp. Ngày ông Công ông Táo. Dưới quê Mơ, giờ này nhà nào cũng đã cúng xong, cá chép đã thả, mâm cỗ đã dọn. Mẹ cô sáng nay gọi điện hỏi đi hỏi lại bao giờ về, hỏi cậu kiểm lâm kia ăn được những gì, có kiêng gì không, có ăn được thịt vịt không, bố mày đặt con vịt rồi đấy. Mơ cười, bảo anh ấy ăn được hết.

Còn ở đây, ở đèo Pha Lìn, chẳng có ông Táo nào cả. Chỉ có một cái bệ bê tông, một cây sau sau, và một người đàn ông ngồi im.

Cô đã biết anh sẽ đến đây đêm nay. Bà Ỏn nói với cô từ tuần trước, lúc cô xuống chợ phiên. Bà nói nhẹ, như nói chuyện thời tiết: đêm hai mươi ba tháng Chạp năm nào thằng Chiêng cũng lên đèo, ngồi một mình đến khuya. Mười bảy năm. Năm nào cũng thế. Bà không bảo cô đi cùng. Bà chỉ nói, rồi nhìn cô.

Chiêng không bảo cô đi cùng. Chiều nay, sau khi cô dạy xong buổi cuối cùng trước Tết, anh lên Lùng Phìn đón cô xuống Nà Hừ, như đã hẹn, vì sáng thứ Sáu hai người sẽ cùng đi xe về Hưng Yên. Ăn cơm tối ở nhà bà Ỏn xong, anh đứng dậy, lấy cái áo khoác, lấy chìa khóa xe. Cô cũng đứng dậy, lấy áo khoác. Anh nhìn cô. Cô nhìn anh. Anh không nói gì, chỉ đưa cho cô cái mũ bảo hiểm.

Bây giờ anh ngồi đây, nhìn xuống con đường đèo đổ dốc dưới chân, uốn lượn như một sợi chỉ trắng biến mất vào bóng tối.

– Năm ấy chỗ này có một cái chốt, – anh nói. – Chốt kiểm tra lâm sản. Một cái lán nhỏ ở kia, chỗ bãi cỏ. Một cái thanh chắn bằng tre, sơn trắng đỏ, gác ngang đường. Một cái đèn pin to, một cái bộ đàm. Hai người trực. Bố anh với anh Khải.

Mơ không nói gì. Cô ngồi sát vào anh hơn.

– Hai mươi ba tháng Chạp, gần Tết, buôn gỗ chạy nhiều nhất. Ai cũng muốn chuyến cuối kiếm tiền ăn Tết. – Giọng anh đều, phẳng, như đọc lại một tờ biên bản đã thuộc lòng. – Khoảng mười một giờ đêm có một cái xe tải đi xuống. Xe ba tấn, thùng phủ bạt. Trước đó có xe khác đi qua, dừng, mở bạt, toàn bắp cải. Cái xe này đi đến gần thì không giảm tốc. Bố anh ra giữa đường, giơ đèn. Xe vẫn không giảm. Bố anh chạy ra hạ thanh chắn. Xe tông vào thanh chắn, gãy đôi. Cái cản xe quệt vào bố anh. Bố anh ngã xuống taluy. Dưới kia.

Anh hất cằm về phía mép đường bên phải. Mơ nhìn theo. Trong bóng tối cô chỉ thấy một khoảng đen sẫm, sâu, có ngọn những cây tre lắc lư.

– Anh Khải chạy xuống. Gọi bộ đàm. Ba tiếng sau người ta mới đưa được bố anh lên xe. Đến bệnh viện thì không kịp.

– Còn cái xe?

– Chạy mất. Không biển số, hay có mà trát bùn. Anh Khải chỉ nhớ màu thùng xe, màu xanh, cũ, và cái bạt. Người ta truy mấy tháng. Không ra. – Anh dừng một chút. – Chỉ có một thứ. Lúc cái xe tông thanh chắn, xe nảy lên ở chỗ bệ bê tông này. Thùng xe xóc mạnh, một tấm ván văng ra khỏi bạt, rơi ngay xuống đường, kéo theo mấy bắp cải lăn lông lốc. Tấm ván pơ mu. Dưới lớp bắp cải là gỗ.

Mơ đứng im. Cô nghĩ đến góc thờ nhà bà Ỏn. Tấm kệ ván duy nhất. Màu vàng sẫm đã ngả nâu vì khói.

– Tấm ván ấy có một cái dấu đốt, – Chiêng nói. – Hình tam giác, bên trong có mũi tên chĩa lên. Bọn buôn gỗ ngày xưa hay đánh dấu hàng của nhóm mình như thế, để chia hàng, để khỏi lẫn với nhóm khác. Mỗi nhóm một dấu. Hạt giữ tấm ván làm tang vật mấy năm. Vụ việc không tìm ra ai thì người ta trả lại cho nhà anh. Mẹ anh không biết làm gì với nó. Vứt thì không nỡ. Để ngoài sân thì không đành. Mẹ anh đóng nó làm cái kệ, đặt ảnh bố anh lên.

– Em thấy rồi, – Mơ nói, giọng khàn. – Hôm em ngủ nhà anh. Em hỏi bác, bác bảo của bố anh để lại.

– Ừ. Đúng thế mà. Cái cuối cùng bố anh để lại.

Gió thổi mạnh hơn. Lá sau sau xào xạc. Mơ thấy mắt mình nóng, cô quay mặt đi, nhìn lên bầu trời. Sao nhiều đến mức trông như ai đó đã đánh đổ cả một bao gạo trắng lên tấm vải đen.

– Năm ấy anh mười hai tuổi, – Chiêng nói. – Anh ở nhà với mẹ, chờ bố về ăn Tết. Đêm ấy anh Khải đến gõ cửa. Anh còn nhớ mặt anh Khải lúc ấy. Từ đêm ấy anh Khải hút thuốc nhiều gấp đôi, đến giờ chưa bớt được ngày nào.

Mười hai tuổi. Mơ tính nhẩm, không cố ý, như người ta vẫn tính nhẩm tuổi mình theo tuổi người khác. Năm ấy cô sáu tuổi, đang học lớp Một. Năm ấy bố cô bán xe. Một luồng lạnh chạy dọc sống lưng cô, nhanh như con thằn lằn chạy qua vách. Rồi cô gạt nó đi. Năm ấy cả nghìn người lái xe chạy đường này. Năm ấy cả nghìn người bỏ nghề. Bố cô bỏ nghề vì mệt. Mẹ cô bảo thế.

– Anh có giận không? – Mơ hỏi. – Giận cái người lái xe ấy.

Anh nghĩ một lúc lâu.

– Hồi bé thì giận. Giận đến mức muốn lớn thật nhanh để đi làm kiểm lâm, để bắt bằng được. – Anh cười, cái cười lệch. – Rồi lớn lên, đi rừng nhiều, gặp nhiều người phá rừng. Có người tham. Có người nghèo. Có người bị người khác bắt làm. Có người làm một lần rồi cả đời không ngủ được. Anh không biết người lái cái xe ấy là người thế nào. Có khi hắn ta chết rồi. Có khi hắn ta đang ngồi đâu đó ăn Tết.

– Thế bây giờ anh có giận không?

– Bây giờ anh chỉ muốn biết. – Anh nhìn xuống cái taluy đen sẫm. – Muốn biết đêm ấy trong cái cabin ấy là ai. Muốn biết hắn có nhìn thấy bố anh không. Muốn biết hắn có quay lại nhìn không.

Họ ngồi im rất lâu. Rồi Chiêng đứng dậy, thắp ba nén hương cắm xuống hòn đá dưới gốc sau sau. Ánh lửa đỏ ba đốm nhỏ trong bóng tối. Anh chắp tay, đứng im, môi mấp máy nói gì đó bằng tiếng Thái. Mơ cũng đứng dậy. Cô không biết khấn gì, cô không biết người Thái khấn thế nào. Cô chỉ đứng cạnh anh, chắp tay, và nói thầm trong đầu, bằng tiếng Kinh: cháu chào bác. Cháu là Mơ. Cháu dạy học ở Lùng Phìn. Bác yên tâm, anh Chiêng năm nay không ngồi một mình.

Anh quay sang nhìn cô. Ba đốm hương soi lên mặt anh, đỏ ửng, mắt anh ướt.

– Em khấn gì thế?

– Em chào bố anh.

Anh cười. Rồi anh cúi xuống. Rất chậm. Như người ta cúi xuống một cái cây non mới trồng để xem nó đã bén rễ chưa. Môi anh lạnh. Môi cô cũng lạnh. Rồi không lạnh nữa.

Gió vẫn thổi qua đèo. Ba nén hương cháy đỏ dưới gốc sau sau. Trên đầu, sao nhiều như gạo.

Lúc họ về đến Nà Hừ thì đã gần mười hai giờ. Bà Ỏn chưa ngủ. Bà ngồi bên bếp, khung cửi im, tay cầm một tấm khăn đã gấp vuông vức. Thấy hai người, bà không hỏi gì. Bà nhìn con trai một lúc. Rồi nhìn Mơ.

– Ngồi xuống đây, – bà nói, vỗ vỗ xuống tấm chiếu bên cạnh.

Mơ ngồi xuống. Bà Ỏn đặt tấm khăn vào tay cô. Một tấm khăn piêu, mới dệt xong, chỉ đỏ trên nền đen, những hình thoi, hình móc câu, ở hai đầu khăn có tua chỉ ngũ sắc, mềm như tơ.

– Cái này cho mẹ con, – bà nói. – Bác dệt mấy hôm nay. Bác không biết mẹ con thích màu gì. Bác dệt màu đỏ. Người Thái mình bảo màu đỏ là màu may.

Mơ cầm tấm khăn, không nói được gì. Bà gọi cô là con. Lần đầu tiên.

– Đêm nay, – bà Ỏn nói, giọng thấp xuống, nhìn đi chỗ khác, nhìn vào cái góc thờ có tấm kệ ván pơ mu, – mười bảy năm, năm nay nó không ngồi một mình. Bác cảm ơn con.

Rồi bà đứng dậy, đi vào buồng, không để ai thấy mặt.

Sáng thứ Sáu, mười ba tháng Hai, hai mươi sáu tháng Chạp, Pấng chở hai người ra trung tâm xã bắt xe.

Anh lái chiếc xe tải xanh lục, Mơ ngồi giữa, Chiêng ngồi ghế ngoài. Cái ba lô của Chiêng để dưới chân, trong đó có hai ống cơm lam, một túi cá suối nướng khô, một bịch măng chua, một chai rượu ngô, tất cả bà Ỏn gói gửi cho nhà Mơ. Cái vali của Mơ, cái vali hồng đã thay bánh, nằm trong thùng xe.

– Thằng em anh đi ra mắt nhà vợ, – Pấng nói, cười hết cỡ, liếc Mơ. – Lần đầu tiên trong đời. Cô giáo nhớ dặn nó: dưới xuôi đi chào hỏi phải cúi đầu, không được đứng thẳng như cây sa mộc.

– Anh im đi, – Chiêng nói.

– Anh nói thật. Thằng này đứng trước mặt người lớn cứ như đứng trước mặt lâm tặc.

Mơ cười. Chiêng cũng cười, dù cố không cười. Xe chạy qua cái cầu tràn, qua những thửa ruộng nước dưới thung đã cày ải, nước đọng loang loáng dưới nắng sớm. Ven đường hoa đào đã nở lác đác, hồng nhạt trên những cành khẳng khiu.

– Bao giờ mày về? – Pấng hỏi, mắt nhìn đường.

– Mùng hai.

– Mùng hai. – Pấng gật gù. – Ừ. Mùng hai anh ra đón. Mấy giờ xe đến?

– Chưa biết. Em nhắn sau.

– Nhớ nhắn. Không thì anh lại ngồi bến xe cả ngày. – Pấng cười. Rồi anh hỏi thêm, giọng bâng quơ, như nói cho có chuyện: – Thế Tết này Hạt ai trực Phìn Pó? Anh Khải à?

– Anh Khải với hai người nữa. Sao anh hỏi?

– Hỏi thế thôi. Để mùng ba anh mang rượu lên chúc Tết anh ấy.

Xe đỗ ở ngã ba trung tâm xã. Pấng nhảy xuống, vác cái vali hồng từ thùng xe xuống, đặt vào tay Mơ. Rồi anh ôm Chiêng một cái, vỗ lưng thình thịch.

– Đi đi. Ăn Tết vui. Đừng để nhà người ta chê.

Hai người lên xe khách xuống trung tâm tỉnh, rồi từ đấy lên chiếc xe giường nằm về Hà Nội. Xe chạy lúc mười một giờ trưa. Mơ nằm ở giường trên, Chiêng nằm ở giường dưới, ngay dưới cô. Cô thò tay xuống mép giường. Anh nắm lấy. Xe đổ đèo, uốn lượn, những dãy núi lùi dần sau cửa kính.

Hai giờ chiều, xe dừng ở một quán cơm ven đường. Chiêng xuống xe, điện thoại vừa có sóng thì rung lên. Anh đọc tin nhắn. Đứng im.

Mơ đứng ở cửa xe, nhìn thấy mặt anh. Cô xuống, đến đứng cạnh. Anh chìa điện thoại cho cô xem.

Tin nhắn của ông Khải, gửi từ mười hai giờ trưa.

"Có tin báo đêm qua Phìn Pó có tiếng máy cưa. Anh với anh em lên kiểm tra rồi. Mày cứ đi, đừng quay về. Anh lo."

— Hết chương 16 —

Mục lục Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn

  1. 1Hộp gỗ thơm trong bùn11 phút
  2. 2Khai giảng thiếu một đôi dép11 phút đọc
  3. 3Lớp học trên ruộng bậc thang11 phút đọc
  4. 4Đứa trẻ không nói tiếng Kinh10 phút đọc
  5. 5Trung thu không có đèn ông sao10 phút đọc
  6. 6Nhà sàn ở bản Nà Hừ11 phút đọc
  7. 7Những cây chết đứng11 phút đọc
  8. 8Mùa gặt cuối cùng10 phút đọc
  9. 9Vòng thắt lưng dưới lớp rêu12 phút đọc
  10. 10Biên bản không có chữ ký11 phút đọc
  11. 11Bốn mươi hai cái chăn11 phút đọc
  12. 12Băng giá trên ruộng bậc thang10 phút đọc
  13. 13Đường xuống trạm y tế12 phút đọc
  14. 14Ai lấy tranh của Dình10 phút đọc
  15. 15Tết Mông11 phút đọc
  16. 16Đêm ông Công ông Táo11 phút đọc
  17. 17Bánh chưng bên sông10 phút đọc
  18. 18Người trong cabin10 phút đọc
  19. 19Giao thừa bên xưởng mộc12 phút đọc
  20. 20Hoa mận trắng ở Lùng Phìn10 phút đọc
  21. 21Lời đe doạ không lên giọng12 phút đọc
  22. 22Hội hoa ban10 phút đọc
  23. 23Dình bỏ học11 phút đọc
  24. 24Mưa đầu mùa10 phút đọc
  25. 25Dấu búa dưới lớp nỉ10 phút đọc
  26. 26Người đàn ông dưới chân đèo11 phút đọc
  27. 27Đêm lũ ống11 phút đọc
  28. 28Những khúc gỗ biết nói11 phút đọc
  29. 29Người anh họ10 phút đọc
  30. 30Chuyến xe cuối cùng10 phút đọc
  31. 31Đèo Pha Lìn, lần thứ hai10 phút đọc
  32. 32Lời khai10 phút đọc
  33. 33Bữa cơm hai nhà10 phút đọc
  34. 34Lá đơn chuyển trường10 phút đọc
  35. 35Cây pơ mu con10 phút đọc
  36. 36Mùa lúa chín lại10 phút đọc

Về truyện này

Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →