AI Truyện
Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn

💞 Ngôn tình

Nhà sàn ở bản Nà Hừ

Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn · Chương 6/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Nhà sàn ở bản Nà Hừ

– Ngồi đây thôi, cô giáo, đừng sang bên ấy, – bà Ỏn nói, tay giữ nhẹ khuỷu tay Mơ, kéo cô ngồi xuống cạnh bếp. – Bên ấy là chỗ của tổ tiên. Khách không đi qua.

Mơ ngồi xuống tấm chiếu mây, người còn ướt sũng từ đầu đến chân, nước từ tóc nhỏ tong tong xuống sàn nứa. Cô xin lỗi. Bà Ỏn cười, xua tay, rồi đưa cho cô một cái khăn bông cũ đã sờn mép, một bộ quần áo khô, và chỉ ra góc nhà có tấm vải che.

– Thay đi. Ướt thế này thì đêm nay ốm. Thằng Chiêng nó dắt người ta về mà cũng không biết che cho người ta.

Ngoài kia, Chiêng đang đứng dưới gầm sàn, vắt áo, không cãi câu nào.

Hôm ấy là thứ Bảy, mười tám tháng Mười. Cả buổi sáng Mơ ngồi ở trường chính dưới trung tâm xã, sinh hoạt chuyên môn khối Hai, Ba với mười một giáo viên khác. Cô nghe thầy Đông nói về đổi mới phương pháp, nghe một cô giáo trẻ ở điểm trường Pá Hạ kể đã ba tháng chưa được về nhà. Buổi trưa trời đổ mưa. Không phải mưa bóng mây như hôm cắt lúa. Mưa thật, mưa trắng trời, mưa như ai lật úp cả cái chậu nước trên đầu thung lũng. Đến ba giờ chiều thì có tin dốc Đá Trắng sạt một đoạn, đất đá lấp ngang đường, xe máy không qua được.

Thầy Đông bảo cô ngủ lại ở phòng công vụ trường chính, nhưng phòng đã có ba cô giáo ở. Thầy gọi điện, rồi chỉ nửa tiếng sau Chiêng đến, mặc áo mưa cánh dơi, mũ bảo hiểm nhỏ nước.

– Về nhà tôi, – anh nói. – Mẹ tôi bảo.

Nhà anh ở bản Nà Hừ, cách trường chính chưa đến một cây số, nhưng một cây số ấy hôm nay là một cây số nước. Nước suối Nậm Lìn dâng lên đỏ ngầu, tràn qua mặt đường bê tông chỗ cây cầu tràn. Chiêng dắt xe lội qua, nước ngập đến đầu gối. Mơ đi sau, bám vào yên xe. Lúc lên đến sân nhà anh thì cô đã ướt từ cổ trở xuống. Áo mưa chẳng giúp được gì.

Nhà sàn của nhà Chiêng nằm giữa một khu vườn có cây mít, cây bưởi, mấy khóm chuối. Sàn cao ngang đầu người, cầu thang gỗ chín bậc. Dưới gầm sàn có khung cửi, bó củi, mấy cái gùi, một chiếc xe máy cũ. Bên trên, gian nhà dài và rộng, sàn lát nứa đập dập, mái lợp ngói, cột gỗ to bằng bắp đùi, bóng nhẫy vì khói bếp mấy chục năm. Bếp lửa ở giữa nhà, kiềng ba chân, nồi xôi đang đồ bốc khói thơm lừng.

Thay xong quần áo, Mơ đi ra. Bộ quần áo của Hiên, em gái Chiêng: áo cóm màu tím, hàng khuy bạc hình con bướm, váy đen dài đến mắt cá. Mặc lên người cô, váy dài quá, cô phải vén.

– Ơ, cô giáo mặc đẹp hơn em! – Một cô gái trẻ ngồi bên bếp reo lên. Mặt tròn, mắt sáng, tóc búi cao. – Anh Chiêng, anh xem cô giáo này!

Chiêng vừa leo lên cầu thang, đứng ở cửa, nhìn. Anh nhìn một giây. Rồi hai giây. Rồi anh quay đi cởi áo mưa, treo lên cái đinh ở vách, lâu một cách không cần thiết.

– Em là Hiên, – cô gái nói, kéo Mơ ngồi xuống cạnh mình. – Em học sư phạm, năm ba. Cuối tuần này em về lấy gạo. Anh Chiêng kể về cô suốt.

– Hiên, – Chiêng nói từ chỗ vách.

– Kể có ba lần thôi. Ba lần là suốt rồi còn gì.

Bà Ỏn đặt mâm cơm xuống sàn. Mâm gỗ tròn, xôi nếp đựng trong cái ép bằng mây, một đĩa cá nướng gập trong thanh tre, bụng cá nhồi đầy lá thơm, sả, ớt, gừng. Một bát canh măng chua. Một đĩa rau rừng luộc chấm với chẩm chéo. Một ống cơm lam nướng xém vỏ.

– Pa pỉnh tộp, – Hiên chỉ đĩa cá. – Cá nướng gập. Cá suối Nậm Lìn đấy cô, sáng nay mẹ em mua ở bản trên.

– Ăn đi, cô giáo, ăn no vào, – bà Ỏn nói, tay bốc một nắm xôi to bằng nắm tay đặt vào tay Mơ. – Trên kia lạnh lắm đấy. Gầy thế này thì gió nó thổi bay.

Bà nói tiếng Kinh lơ lớ, câu hay đảo, nhưng giọng ấm, trầm. Bà ngoài năm mươi, tóc đã bạc gần nửa, búi cao, cài cái trâm bạc. Bàn tay bà to, ngón tay có những vết chai ở đầu, vết của người dệt vải. Mơ cầm nắm xôi. Hạt xôi dẻo, thơm, nóng hổi, dính tay. Cô bắt chước Hiên, véo một miếng nhỏ, vê tròn, chấm vào chẩm chéo, rồi ăn. Cay. Thơm. Chua của măng, ngọt của cá, đắng nhẹ của rau rừng.

Cả nhà nhìn cô ăn. Cô bắt đầu quen với chuyện ở trên này người ta hay nhìn cô ăn.

Mưa ngoài trời mỗi lúc một to. Tiếng mưa trên mái ngói rào rào như rang ngô. Bếp lửa bập bùng. Hiên nói nhiều, kể chuyện trường, kể chuyện bạn cùng phòng, kể chuyện anh Chiêng hồi bé leo cây gãy tay bảo ong đốt, chuyện mà Mơ đã nghe Pấng kể một lần. Bà Ỏn ngồi nghe, thỉnh thoảng thêm một câu, gắp thêm cá vào bát cô. Chiêng ít nói, nhưng mỗi lần Hiên kể quá đà thì anh sửa lại một chi tiết, và cái chi tiết anh sửa bao giờ cũng làm câu chuyện buồn cười hơn.

Ăn xong, Hiên rửa bát. Bà Ỏn ngồi xuống khung cửi đặt ở góc sàn gần cửa sổ, dệt tiếp tấm khăn piêu đang dở. Mơ ngồi cạnh xem. Những sợi chỉ đỏ, vàng, xanh, trắng chạy qua lại dưới tay bà, thành những hình thoi, hình móc câu, hình như những cái sừng con nai.

– Bác dệt cho ai đấy ạ?

– Không cho ai. Dệt để đấy. Đến khi nào thằng Chiêng nó lấy vợ thì có cái mà cho.

Bà nói câu ấy nhẹ tênh, không ngẩng lên. Chiêng ngồi ở bếp đang chẻ củi, dừng tay một nhịp, rồi chẻ tiếp.

Lúc ấy Mơ mới để ý đến góc thờ.

Ở gian trong cùng của nhà sàn, chỗ bà Ỏn dặn khách không được đi qua, có một cái kệ gỗ đóng sát vách. Kệ chỉ là một tấm ván duy nhất, dài chừng một sải tay, dày, màu vàng sẫm đã ngả nâu vì khói. Trên kệ có một bát hương, một chai rượu, một đĩa nhỏ đựng mấy nắm xôi đã khô, và một tấm ảnh lồng khung. Ảnh một người đàn ông chừng ngoài ba mươi, mặc áo kiểm lâm kiểu cũ, cổ bẻ, đội mũ có huy hiệu. Mặt vuông, cằm hơi nhọn, cười lệch một bên mép.

Mơ nhận ra cái cười ấy ngay.

Từ chỗ cô ngồi cạnh khung cửi, ánh lửa bếp hắt sang, cô nhìn thấy cạnh dưới của tấm ván kệ. Ở đầu bên phải, mép ván nhô ra khỏi vách một chút, có một vết đốt sẫm đen trên gỗ. Như ai đó đã dí một thanh sắt nung đỏ vào. Một hình tam giác, ba cạnh đều, và bên trong tam giác là một mũi tên chĩa lên.

Cô nhìn nó lâu. Cô không biết vì sao. Vết đốt ấy chẳng có gì đặc biệt, có lẽ là dấu của xưởng gỗ nào đó, như bố cô hay dùng con dấu sắt nung để in chữ "Nghiêm" lên mặt dưới những cái ghế ông đóng.

– Cái kệ đẹp quá, bác ạ. Gỗ pơ mu phải không bác?

Bà Ỏn ngừng tay. Thoi dệt nằm im giữa hai lớp chỉ. Bà nhìn sang góc thờ một lúc lâu.

– Ừ. Của bố nó để lại.

Bà nói thế rồi thôi. Rồi bà lại đưa thoi. Mơ hiểu, đây lại là một hòn đá chặn đường. Cô liếc sang Chiêng. Anh vẫn chẻ củi, nhưng lưỡi rìu dừng giữa chừng, đặt yên trên khúc gỗ.

Đêm ấy Mơ ngủ chung buồng với Hiên, sau tấm vải che. Đệm bông gạo, chăn bông thêu hoa. Hiên nói chuyện đến gần mười một giờ mới chịu ngủ, chủ yếu là kể về anh trai: anh Chiêng thi đỗ trung cấp lâm nghiệp, rồi học liên thông lên cao đẳng, anh Chiêng có thể xin về làm văn phòng ở Hạt dưới tỉnh mà không chịu, anh Chiêng năm năm nay chưa dắt cô nào về nhà, anh Chiêng...

– Chị Mơ, – Hiên gọi, đổi cách xưng hô từ lúc nào chẳng biết. – Mẹ em thích chị đấy.

– Sao em biết?

– Mẹ em mời chị ăn cá bụng. Khách thường mẹ chỉ mời cá lưng.

Gần sáng thì mưa tạnh. Mơ dậy sớm, ra ngồi ở đầu cầu thang. Bà Ỏn đã dậy trước cả cô, đang đồ xôi dưới bếp, khói bay lên mái ngói, quyện vào sương sớm thành một lớp trắng đục. Bà gói xôi vào lá chuối, từng gói vuông vức, xếp vào cái thúng lớn, bên cạnh mấy chục ống cơm lam đã nướng.

– Hôm nay chợ phiên, – bà nói. – Bác đi bán. Cô giáo đi chơi chợ không?

Chợ phiên Nà Hừ họp ở bãi đất rộng cạnh trụ sở xã, sáng Chủ nhật. Mơ chưa từng thấy cái chợ nào như thế. Người Mông từ các bản trên núi xuống, đàn bà váy xòe sặc sỡ, đàn ông áo chàm, dắt ngựa thồ. Người Thái ở các bản dưới thung, khăn piêu đội đầu, gánh rau, gánh măng. Người Dao áo chàm thêu đỏ, bán thuốc nam. Có gian bán thắng cố bốc khói nghi ngút, mấy ông già ngồi quây quần quanh chảo, uống rượu ngô từ sáu giờ sáng. Có gian bán dao, bán lưỡi cày. Có gian bán lợn con đựng trong rọ tre, kêu eng éc. Có gian bán vải lanh, chỉ thêu, vòng bạc. Mùi thịt nướng, mùi ngô rang, mùi phân ngựa, mùi rượu, mùi thảo quả khô.

Gian xôi của bà Ỏn đông nhất chợ. Gói xôi mười nghìn, ống cơm lam mười lăm nghìn, bán đến tám giờ đã gần hết. Mơ đứng giúp bà đưa hàng, nhận tiền, đếm tiền lẻ, đếm sai hai lần.

– Ơ, cô giáo Lùng Phìn bán xôi à!

Pấng. Anh đứng trước gian hàng, áo khoác da, quần bò, tóc vẫn vuốt keo, tay dắt một thằng bé chừng bốn tuổi mặt tròn xoe. Sau lưng anh là một chị trẻ tóc dài, bế cái túi to.

– Vợ em, Nhung. Con em, thằng Tòng. – Anh giới thiệu, rồi quay sang bà Ỏn. – Bác, cho cháu năm gói xôi, ba ống lam. Cháu trả cho cô giáo.

Anh rút tiền ra, đặt vào tay Mơ, rồi giữ tay cô lại một chút, cười:

– Cô giáo bán xôi hộ bác cháu thì phải tính công đấy. Bác cháu keo lắm.

– Cái thằng này! – Bà Ỏn vỗ vào vai Pấng.

Nhung cười, gật đầu chào Mơ. Thằng Tòng giấu mặt sau chân bố. Pấng nhận xôi, rồi hỏi bà Ỏn, giọng bâng quơ:

– Thằng Chiêng đâu bác? Hôm nay nó có đi tuần không?

– Nó ở nhà. Hôm nay nó nghỉ.

– Thế mai nó đi đâu?

– Ai biết. Nó có bao giờ nói với bác đâu.

Pấng cười, xoa đầu con trai, dắt vợ con đi về phía gian thắng cố.

Chín giờ thì Chiêng đến chợ. Anh mặc áo kiểm lâm, nhưng không đội mũ, tay cầm điện thoại. Mặt anh không giống mặt người nghỉ.

– Đường dốc Đá Trắng người ta dọn xong rồi, – anh nói với Mơ. – Trưa nay tôi đưa cô về.

– Anh có việc gì à?

Chiêng không trả lời ngay. Điện thoại trong tay anh lại rung. Anh nhìn màn hình, rồi bấm nghe, đi ra xa vài bước, ra chỗ gốc cây gạo đầu chợ. Mơ đứng ở gian xôi, nhìn theo. Cô không nghe được anh nói gì. Cô chỉ thấy anh đứng nghe rất lâu, không nói, rồi chỉ nói một câu ngắn. Rồi lại nghe. Bàn tay không cầm điện thoại của anh bóp lấy cái vỏ cây gạo sần sùi.

Anh quay lại. Bà Ỏn nhìn con, rồi nhìn Mơ, không hỏi gì.

– Anh Khải gọi, – Chiêng nói. Anh Khải là cấp trên của anh ở Hạt. – Bên xã vừa nhận công văn của công ty Mây Xanh. Ở Phìn Pó, mười bốn cây pơ mu cổ vàng lá. Chết đứng.

– Chết vì sao?

– Công ty báo là sâu bệnh. Họ đề nghị cho vào vệ sinh rừng. Tận thu cây chết.

Mơ nhìn anh. Cô nghĩ đến dải vỏ cây tươi trong lòng bàn tay Tủa hôm Trung thu. Cô nghĩ đến tranh của Dình. Người ta cởi áo cho cây.

– Tận thu là sao hả anh?

– Là cây chết rồi thì được hạ xuống, lấy gỗ.

Bà Ỏn gói gói xôi cuối cùng trong thúng, buộc lạt, đặt vào tay Mơ.

– Cầm lấy, cô giáo. Ăn trên đường. – Rồi bà nói, không nhìn Mơ, nhìn đứa con trai đang đứng như trời trồng giữa chợ: – Cô giáo dưới xuôi lên, ba năm là về. Còn cây trên núi thì ở đấy mãi. Đi đi, Chiêng.

— Hết chương 6 —

Mục lục Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn

  1. 1Hộp gỗ thơm trong bùn11 phút
  2. 2Khai giảng thiếu một đôi dép11 phút đọc
  3. 3Lớp học trên ruộng bậc thang11 phút đọc
  4. 4Đứa trẻ không nói tiếng Kinh10 phút đọc
  5. 5Trung thu không có đèn ông sao10 phút đọc
  6. 6Nhà sàn ở bản Nà Hừ11 phút đọc
  7. 7Những cây chết đứng11 phút đọc
  8. 8Mùa gặt cuối cùng10 phút đọc
  9. 9Vòng thắt lưng dưới lớp rêu12 phút đọc
  10. 10Biên bản không có chữ ký11 phút đọc
  11. 11Bốn mươi hai cái chăn11 phút đọc
  12. 12Băng giá trên ruộng bậc thang10 phút đọc
  13. 13Đường xuống trạm y tế12 phút đọc
  14. 14Ai lấy tranh của Dình10 phút đọc
  15. 15Tết Mông11 phút đọc
  16. 16Đêm ông Công ông Táo11 phút đọc
  17. 17Bánh chưng bên sông10 phút đọc
  18. 18Người trong cabin10 phút đọc
  19. 19Giao thừa bên xưởng mộc12 phút đọc
  20. 20Hoa mận trắng ở Lùng Phìn10 phút đọc
  21. 21Lời đe doạ không lên giọng12 phút đọc
  22. 22Hội hoa ban10 phút đọc
  23. 23Dình bỏ học11 phút đọc
  24. 24Mưa đầu mùa10 phút đọc
  25. 25Dấu búa dưới lớp nỉ10 phút đọc
  26. 26Người đàn ông dưới chân đèo11 phút đọc
  27. 27Đêm lũ ống11 phút đọc
  28. 28Những khúc gỗ biết nói11 phút đọc
  29. 29Người anh họ10 phút đọc
  30. 30Chuyến xe cuối cùng10 phút đọc
  31. 31Đèo Pha Lìn, lần thứ hai10 phút đọc
  32. 32Lời khai10 phút đọc
  33. 33Bữa cơm hai nhà10 phút đọc
  34. 34Lá đơn chuyển trường10 phút đọc
  35. 35Cây pơ mu con10 phút đọc
  36. 36Mùa lúa chín lại10 phút đọc

Về truyện này

Hộp gỗ pơ mu ở bản Lùng Phìn là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Trang của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →