Chương 9: Dấu sen hai nét
Ông thủ kho Bùi Lâm lật cái bát lên, gõ móng tay vào chân đế, nghe tiếng kêu đanh như chuông nhỏ, rồi mới đặt vào tay Ngải.
– Cầm cẩn thận. Vỡ một cái, cô làm cả tháng không đủ đền.
Ngải cầm. Cái bát men ngọc xanh nhạt, mỏng, nhẹ như cầm một chiếc lá. Nàng lật ngửa nó lên, đưa chân đế ra ánh sáng từ ô cửa sổ. Giữa chân đế mộc, một dấu khắc nhỏ, nông: một nét cong làm cánh, một nét thẳng làm cuống. Bông sen hai nét.
Nàng đứng im rất lâu, lâu đến nỗi ông Bùi Lâm phải hắng giọng.
– Cô nhìn gì mà nhìn mãi thế?
– Bẩm, cái dấu này là dấu gì ạ?
– Dấu Ngự dược phòng. – Ông nói, giọng hơi tự hào. – Bát thuốc dâng trong cung đặt riêng ở lò ngự, chân đế khắc sen hai nét, để phân biệt với bát ăn, bát trà. Ai lấy bát này ra ngoài cung là phạm tội trộm đồ ngự dụng. Mà bát men ngọc mỏng như cái này thì chỉ dâng các bà từ bậc phi trở lên. Cung nữ, thị tì uống thuốc bằng bát men trắng dày, cũng sen hai nét, nhưng thô.
– Từ bao giờ đã khắc dấu này ạ?
– Từ trước khi ta vào đây. Ta vào làm ba mươi năm rồi. – Ông Bùi Lâm lấy lại cái bát, cẩn thận đặt về chỗ cũ trên giá, xếp thẳng hàng với mười mấy cái khác y hệt. – Sao? Cô định đi đặt lò làm một cái à?
– Dạ không. – Ngải nói. – Con chỉ hỏi.
Lụa đứng ở cửa kho, tay ôm mấy gói thuốc vừa lĩnh, giục:
– Chị Ngải, đi thôi. Chị Sen chờ.
Ngải đi. Sáng hai mươi mốt tháng Ba, nắng nhạt và hanh. Trên đường từ Ngự dược phòng về Nữ y sở, qua cửa ngách lim, nàng không nghe được câu nào Lụa nói. Lụa kể chuyện một cung nữ điện Khôn Ninh lén nuôi con mèo, chuyện ông Ngự y béo bị Viện sứ mắng vì chuyện đêm Khang vương lên cơn, chuyện mùa này hoa xoan rụng đầy sân sau. Ngải gật, ừ, vâng, mà trong đầu chỉ có bông sen hai nét và những thứ nàng đã biết mà chưa dám đặt cạnh nhau.
Cái bát nằm dưới đáy thúng khâu của nàng là bát dâng thuốc trong cung. Bát dâng cho một bà phi.
Năm Hoằng Khánh thứ năm, mẹ Khang vương mất. Người bưng bát thuốc là một học trò họ Liêu. Người ta bảo hắn trốn về phương nam.
Cha nàng đi khập khiễng chân trái từ trước khi nàng nhớ được. Cha nàng không bao giờ kể về quê nội. Mẹ nàng có lần bảo, nhà nội ở xa lắm, ông bà mất cả rồi, đừng hỏi cha. Cha nàng biết chữ nhiều hơn mọi thầy lang nàng từng gặp, biết những vị thuốc mà ông thầy lang làng bên chưa từng nghe tên, mà cả đời chỉ chữa bệnh cho dân bãi cói, không bao giờ lên phủ, không bao giờ nhận lời mời của nhà quan.
Có một người, ở một phủ phía nam, bảo có vật làm tin. Rồi im bặt.
Và người đưa câu hỏi của Khang vương đi khắp các phủ là những người buôn thuốc.
Chiều hôm ấy, xong việc, Ngải không xin chị Sen. Nàng đi qua cửa ngách, đi vòng sau dãy kho, sang vườn thuốc Nam dược. Nàng không biết mình sang đó để làm gì. Nàng chỉ biết ở cả cái kinh thành này, đó là chỗ duy nhất có mùi giống quê.
Mặt trời đã xuống thấp sau mái ngói. Vườn vắng. Giàn mướp đã ra hoa vàng, ong bay vo ve. Ngải đến bên luống ngải, quỳ xuống, vò một lá, đưa lên mũi. Rồi nàng ngồi bệt xuống bờ đất, ôm đầu gối.
Đừng tin ai ở Thái y viện. Người tốt với con nhất, con càng phải coi chừng.
Nàng không biết mình ngồi đó bao lâu. Khi nàng ngẩng lên thì Phó sứ Tôn đã đứng ở đầu luống, tay xách giỏ, tay áo xắn hai nếp, nhìn nàng.
– Con khóc à?
– Dạ không. – Ngải đưa tay quệt mặt. Tay nàng ướt. – Con không biết.
Ông Tôn không hỏi thêm. Ông đặt giỏ xuống, ngồi xuống bờ đất cạnh nàng, cách một sải tay, như người ngồi nghỉ sau buổi làm vườn. Ông nhổ một cọng cỏ, xoắn trong tay.
– Hồi mới vào Viện, ta cũng hay ra đây ngồi. Hồi ấy vườn còn rộng hơn, phái ta còn đông người. Nhớ nhà thì ra ngửi lá. – Ông nói. – Ở đây người ta ngửi trầm, ngửi xạ, ngửi long não. Có mỗi chỗ này là có mùi lá.
Ngải im. Ông Tôn cũng im. Ong vo ve trên giàn mướp.
– Bẩm Phó sứ. – Nàng nói, cuối cùng. – Con xin hỏi một chuyện.
– Hỏi đi.
– Năm Hoằng Khánh thứ năm, ở Thái y viện có phải có một vụ án không?
Cọng cỏ trong tay ông Tôn dừng lại.
Ông không quay sang nhìn nàng. Ông nhìn thẳng vào luống ngải, lâu đến nỗi một con ong đậu xuống mu bàn tay ông rồi bay đi. Khi ông nói, giọng ông vẫn ấm, nhưng chậm hơn, như từng chữ phải nhấc lên từ một chỗ sâu.
– Ai nói với con chuyện ấy?
– Khang vương. – Ngải nói. – Đêm mười hai, lúc điện hạ lên cơn hen, con theo bà Quản sang. Điện hạ hỏi con có biết thầy thuốc nào họ Liêu ở phía nam không.
Ông Tôn quay sang. Ông nhìn nàng, nhìn kỹ như hôm thi bà Quản Lương đã nhìn, như nhìn một trang sách cũ mà ông đã đọc từ rất lâu và giờ đang cố nhớ lại từng chữ. Ông nhìn mắt nàng. Rồi ông nhìn xuống tay nàng, bàn tay đang vò nát lá ngải.
– Con thái thuốc thế nào? – Ông hỏi, đột ngột. – Cầm dao thế nào?
Ngải không hiểu, nhưng nàng giơ tay phải lên, làm động tác như cầm con dao cầu: ngón trỏ duỗi thẳng đè lên sống dao, ba ngón còn lại nắm cán, cổ tay hơi nghiêng.
Ông Tôn nhắm mắt lại.
– Ngón trỏ đè sống dao. – Ông nói khẽ. – Cả Viện này chỉ có một người cầm dao như thế. Hắn bảo cầm thế thì lát thuốc mỏng đều, thầy mắng mãi hắn không bỏ.
Ông mở mắt. Ngải thấy mắt ông đỏ.
– Cha con tên gì?
– Nghiêm Cát.
– Không. – Ông Tôn nói. – Tên thật của nó. Tên trước khi nó về phương nam.
Ngải không trả lời. Nàng không biết. Nàng chưa bao giờ biết cha mình có một cái tên khác.
Ông Tôn nhìn nàng một lúc, và hình như ông hiểu là nàng không biết thật. Ông thở ra một hơi dài, rất dài, như người vừa đặt xuống một gánh nặng mà vai đã quen.
– Liêu Thanh. – Ông nói. – Cha con tên là Liêu Thanh. Là học trò út của thầy ta, Phó sứ Đồng Khải. Ta là học trò lớn. Nó gọi ta là sư huynh. Con thì phải gọi ta là sư bá.
Ngải ngồi im. Gió chiều thổi qua vườn, những lá ngải lật mặt trắng lên.
Ông Tôn kể. Ông kể chậm, không thêm thắt, như người kể một chuyện đã kể với chính mình hàng nghìn lần trong đầu.
Năm Hoằng Khánh thứ năm, mùa đông, Thục phi Đoàn thị ho kéo dài, mãi không dứt. Thục phi khi ấy hai mươi sáu tuổi, đang được Hoàng thượng sủng ái nhất cung, con trai lên ba. Phó sứ Đồng Khải, đứng đầu phái Nam dược, được giao chữa. Đơn do thầy Đồng kê, thuốc do Liêu Thanh sắc ở Ngự dược phòng rồi tự tay bưng sang. Ngày mười chín tháng Mười, Thục phi uống bát thuốc buổi chiều, chưa đầy một canh giờ thì lên cơn, đến giờ Dậu thì mất.
Triều đình kết luận có độc trong thuốc. Thầy Đồng bị bắt ngay đêm ấy. Tháng Chạp, thầy bị xử tử. Liêu Thanh trốn trong đêm, bị kết tội đồng phạm, xử vắng mặt, có lệnh truy nã khắp các phủ. Phái Nam dược từ đó tan tác. Người bị đuổi, người tự xin về quê. Chỉ còn mình ông Tôn ở lại, mười bảy năm, giữ cái ghế Phó sứ và cái vườn thuốc này.
– Đêm ấy chính ta mở cửa ngách vườn thuốc cho nó trốn. – Ông Tôn nói. – Ngay chỗ kia kìa.
Ông chỉ về phía góc vườn, chỗ bức tường đá ong có một cánh cửa gỗ thấp, rêu phủ kín, then cài gỉ đỏ.
– Ra khỏi cửa ngách thì còn một bức tường ngoài nữa mới ra phố. Nó trèo lên, nhảy xuống. Tường cao. Ta nghe tiếng nó ngã, tiếng nó kêu, rồi tiếng nó lết đi. Từ đó ta không biết nó sống hay chết. Mười bảy năm. – Ông cười, một cái cười méo. – Hóa ra nó sống. Hóa ra nó đổi họ mẹ, làm thầy lang ở một cái làng ven sông. Hóa ra nó có con gái.
– Cha con… – Ngải nói, và giọng nàng vỡ ra. – Cha con có bỏ độc không?
– Không. – Ông Tôn nói ngay, không do dự một chút nào. – Không bao giờ. Thầy Đồng cũng không. Ta biết hai người ấy như biết bàn tay mình.
– Thế thì ai?
Ông Tôn không trả lời ngay. Ông nhìn nàng, rồi nhìn quanh vườn, nhìn về phía dãy nhà kho, dãy nhà của Viện sứ ở đằng xa.
– Con nghe ta nói đã. – Ông nói. – Con có hiểu bây giờ cha con đang ở đâu không?
– Ngục Bắc. Chờ thu thẩm.
– Không. – Ông lắc đầu. – Con chưa hiểu. Án làng ở Phù Vân, nếu con chạy được, nếu con tìm được chứng, có khi Đại lý tự xét lại, tha. Nhưng nếu có ai biết Nghiêm Cát chính là Liêu Thanh, thì chẳng cần thu thẩm nữa. Liêu Thanh là tử tội từ mười bảy năm trước, tội đầu độc phi tần. Người ta chỉ cần lôi nó ra chém. Không cần xét, không cần chứng. Hồ sơ cũ còn nằm trong kho bộ Hình kia.
Ngải ngồi im. Nàng cảm thấy cái lạnh từ dưới đất ngấm lên qua lớp vải áo, lên lưng, lên gáy.
Thì ra đây là cái điều cha sợ. Không phải án làng. Án làng thì ông còn đứng thẳng ở công đường, còn bảo tri phủ đi lấy bã thuốc mà xem. Cái ông sợ là chính cái tên của ông. Là cái việc nàng lên kinh, đứng giữa cái Thái y viện này, mang mặt ông, cầm dao như ông, nhìn đáy bát như ông.
– Phương Tứ. – Nàng nói, gần như thì thầm. – Người làm chứng gian ở phủ là một người buôn thuốc tên Phương Tứ. Khang vương nói nhờ người buôn thuốc đi hỏi khắp các phủ. Có một người ở phía nam trả lời rồi im bặt…
Ông Tôn nhìn nàng, mắt mở to.
– Phương Tứ. – Ông lặp lại. – Hắn giao hàng cho Ngự dược phòng mười mấy năm nay. Hắn chạy tuyến phía nam. – Ông ngừng lại. – Hắn ra vào nhà Viện sứ Khâu nhiều hơn chỗ ta. Hàng thuốc bắc của hắn, phái Kinh phương lấy hết.
Hai người ngồi im. Mặt trời đã lặn hẳn. Trên giàn mướp, mấy bông hoa vàng khép lại.
– Cha con có dặn con giữ cái gì không? – Ông Tôn hỏi, rất khẽ.
Ngải không trả lời. Nàng không gật, không lắc. Nhưng nàng biết mặt mình đã trả lời thay.
Ông Tôn nhìn nàng thêm một lúc, rồi giơ tay lên, như để ngăn nàng nói.
– Đừng nói với ta. – Ông nói. – Đừng nói với ai cả. Cái gì nó dặn con giữ, con giữ cho kỹ, đừng mang ra, đừng cho ai xem. Kể cả ta. Ở Viện này, càng ít người biết càng tốt.
Ông đứng dậy, phủi đất ở vạt áo, xách giỏ lên. Rồi ông dừng lại, cúi xuống nhìn nàng. Trong bóng nhá nhem, cái mặt tròn hồng hào của ông trông già hẳn đi.
– Từ mai, con gọi ta là sư bá. Ở chỗ không có người.
– Dạ. – Ngải nói. – Sư bá.
Ông gật đầu. Ông quay đi được mấy bước thì Ngải gọi với theo.
– Sư bá. Ở kinh này, ngoài sư bá ra, còn ai biết mặt cha con không?
Ông Tôn dừng lại giữa hai luống tía tô. Ông không quay lại ngay.
– Người biết mặt cha con ở kinh này còn ba người. – Ông nói. – Một là ta. Hai là Viện sứ Khâu, năm ấy ông ấy là Phó sứ phái Kinh phương, ngày nào cũng thấy nó đi qua đi lại Ngự dược phòng.
– Còn người thứ ba?
Ông Tôn quay lại. Ngải không nhìn rõ mặt ông nữa, chỉ thấy cái bóng thấp đậm của ông giữa vườn, và hai ống tay áo xắn lên trăng trắng.
– Người thứ ba là kẻ đã bỏ độc vào bát của Thục phi. – Ông nói. – Kẻ ấy chưa bao giờ ra khỏi cái cung này.
— Hết chương 9 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe