AI Truyện
Đáy bát không nói dối

🏯 Cổ đại & cung đấu

Năm ngày đò dọc

Đáy bát không nói dối · Chương 3/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Năm ngày đò dọc

Bà Ba Chè đếm lại xâu tiền lần thứ ba, rồi đẩy sang cho Ngải.

– Một quan tám tiền. Bà trả thế là trả đắt rồi đấy, cái tủ thuốc ấy mọt ăn chân. Mà bà mua vì thương mày, chứ bà biết gì thuốc men.

– Cháu biết. – Ngải nói. – Cháu cảm ơn bà.

Bà Ba Chè bán nước chè đầu ngõ đã ba mươi năm, góa chồng từ hồi Ngải chưa đẻ. Bà là người duy nhất trong xóm còn sang nhà Ngải sau hôm xử án, mang theo nồi cháo đậu xanh và cái miệng không ngớt chửi. Chửi lý trưởng, chửi ông thầy lang làng bên, chửi cả cái tri phủ "ngủ gật mà cũng xử án". Bà không chửi cha Ngải câu nào.

– Thế mày định đi thật à?

– Thật ạ.

– Lên kinh mày ở đâu? Ăn gì? Quen ai?

– Cháu biết bốc thuốc. – Ngải nói. – Ở đâu có người ốm thì ở đó có cơm.

Bà Ba Chè nhìn nàng một lúc, rồi thở dài, rút trong cạp quần ra một đồng bạc nhỏ bằng móng tay, dúi vào tay nàng.

– Cầm lấy. Đừng cãi. Khi nào thầy mày về thì bảo thầy mày trả bà.

Nhà, bà giữ hộ. Ruộng hai sào, bà cho người cấy rẽ. Ngải gói ghém tất cả những gì mình có vào một cái tay nải: hai bộ áo, cái lược, một túi kim, mười hai gói thuốc thông thường nàng tự bốc để đi đường, cái áo dài nâu của cha. Và cái thúng khâu, đáy thúng vẫn là gói vải chàm.

Sáng mùng hai tháng Hai, nàng xuống bến.

Bến Vũng Cói là một bãi đất bồi, đầu bãi có cây gạo già đang nở hoa đỏ ối. Đò dọc của ông lái Cả Đước neo dưới gốc gạo, thân dài sáu sải tay, mui cói khum, chở muối, nước mắm, mấy bao lạc, và chừng mươi người khách đi kinh. Một quan hai tiền một người, năm ngày, ăn cơm tự lo. Ngải trả tiền, leo lên, ngồi ở góc mui phía đuôi, chỗ gió lùa và chẳng ai thèm ngồi.

Đò nhổ sào lúc mặt trời vừa lên. Ngải nhìn bãi cói trôi lùi lại, nhìn mái ngói nhà lý trưởng thấp dần sau rặng tre, rồi không nhìn nữa.

Ngày đầu tiên trôi qua trong tiếng mái chèo và tiếng mấy bà buôn mắm chuyện trò. Họ nói giá nước mắm trên kinh, nói chuyện ông quan mới về phủ bên, nói chuyện năm nay rét đầu xuân dai, mạ chết rét cả mấy làng ven sông. Ngải ngồi nghe, không xen vào. Có người nhận ra nàng, khẽ huých tay bạn, thì thầm. Nàng quay mặt nhìn ra sông.

Đến chiều ngày thứ hai thì con bé nhà ông lái lên cơn sốt.

Con bé tên Sứa, bảy tuổi, da đen nhẻm, tóc cháy nắng, cả ngày leo trèo trên mui như con sóc. Trưa nó còn đòi ăn ổi, đến xế chiều đã nằm ủ rũ trong khoang, mặt đỏ gay. Vợ ông lái, một người đàn bà gầy, tay chân toàn gân, cuống quýt lôi hết chăn trong khoang ra đắp lên người con, ba cái chăn bông, thêm một cái áo tơi.

– Ủ cho nó ra mồ hôi là khỏi. – Bà nói với ai đó, giọng run. – Ra mồ hôi là khỏi.

Con bé nằm dưới đống chăn, thở hắt ra từng hơi ngắn, môi khô nứt. Ngải đứng dậy, đi dọc mạn đò sang. Nàng quỳ xuống, đặt mu bàn tay lên trán con bé. Nóng như hòn than.

– Thím ơi. – Nàng nói. – Thím bỏ bớt chăn ra cho cháu.

Vợ ông lái nhìn nàng, mắt đầy nghi ngờ.

– Cô là ai?

– Cháu là con thầy lang. Cháu biết chút ít. – Nàng không nói tên làng, không nói tên cha. – Cháu nó đang nóng lắm rồi, đắp thêm thì nóng thêm. Thím bỏ chăn ra, cởi bớt áo, cháu lau mát cho.

– Đang sốt mà cởi áo? Gió sông thế này, nó cảm thì sao?

– Thì mình che gió cho cháu. Còn người thì phải cho mát.

Một bà buôn mắm ngồi gần đó chen vào:

– Cô ấy là con lão Nghiêm, lão thầy lang vừa bị xử chết vì bốc thuốc chết người đấy. Thím cẩn thận.

Không khí trong khoang đò đông cứng lại. Vợ ông lái ôm chặt con vào lòng, nhìn Ngải như nhìn rắn. Ngải không lùi. Nàng cảm thấy mặt mình nóng bừng, nhưng giọng vẫn đều.

– Cháu không bốc thuốc cho cháu nó. Cháu chỉ xin lau mát, cho cháu uống nước sôi để nguội. Thím cứ xem cháu làm. Thím thấy không ổn thì đuổi cháu ra.

Ông lái Cả Đước, nãy giờ đứng chèo ở mũi, buông mái chèo cho người phụ, lom khom đi vào. Ông là người ít nói, mặt đầy nếp nhăn như vỏ cây vối. Ông nhìn con, nhìn vợ, nhìn Ngải.

– Để cô ấy làm. – Ông nói. – Lau mát với uống nước thì chết ai.

Ngải bỏ ba cái chăn ra, chỉ để một cái áo mỏng. Nàng nhờ ông lái căng tấm cói chắn gió bên mạn. Nàng xin một nồi nước, đun sôi trên cái bếp lò đất ở đuôi đò, để nguội bớt cho ấm ấm, rồi nhúng khăn, vắt khô, lau trán, lau cổ, lau nách, lau bẹn, lau lòng bàn tay bàn chân con bé. Lau xong chỗ này thì chỗ kia đã khô, lại lau. Nàng đổ nước sôi để nguội vào cái chén, đỡ đầu con bé dậy, cho uống từng ngụm nhỏ.

– Uống đi em. Uống từng tí một.

Con bé uống được nửa chén, rồi nôn ra một ít. Vợ ông lái kêu thét. Ngải không dừng. Nàng lau miệng cho nó, chờ một lúc, lại cho uống, lần này ít hơn, nửa thìa một.

Suốt đêm ấy nàng không ngủ. Đò neo ở một bến lạ, chỉ có tiếng ếch nhái với tiếng nước vỗ mạn. Ngải ngồi bên con bé, cứ một lúc lại nhúng khăn, lại lau, lại cho uống. Vợ ông lái ban đầu ngồi canh như canh trộm, về sau cũng cầm một cái khăn, làm theo Ngải. Gần sáng, trán con bé mát dần. Nó mở mắt, đòi ăn ổi.

Vợ ông lái òa khóc.

– Sốt thế này thì ba hôm nữa có thể lên cơn lại. – Ngải dặn bà. – Lên thì cứ làm thế, đừng ủ chăn. Nó đi tiểu được nhiều là tốt. Đến kinh thì đưa cháu đi khám thầy thuốc, xem có phải sốt rét không.

– Cô… – Bà lái nắm lấy tay Ngải, rồi ấp úng. – Lúc nãy tôi lỡ lời.

– Thím không lỡ lời gì cả. – Ngải nói. – Thím sợ cho con.

Sáng ngày thứ ba, bà buôn mắm không nói gì nữa. Bà chỉ đặt bên cạnh Ngải một bát cơm nắm muối vừng, rồi quay đi.

Cũng sáng hôm ấy, đò ghé bến phủ Hà Tân lấy thêm hàng, có một ông khách buôn thuốc bắc lên đò. Ông người kinh, giọng nhanh và lanh lảnh, vừa ngồi xuống đã mở miệng kể chuyện. Ngải đang rửa khăn ở mạn đò thì nghe ông nói với ông lái:

– Năm nay trên kinh hiếm thầy thuốc đàn bà lắm. Mùa đông vừa rồi trong cung có trận ho rét, Nữ y sở mất ba người: hai bà già xin về quê, một bà chết. Thái y viện đang dán cáo thị tuyển nữ y sinh, con gái nhà lành, biết chữ, biết nghề thuốc. Thi vào hôm mười tám tháng này.

– Vào làm gì? – Ông lái hỏi.

– Thì chữa bệnh cho cung nữ, cho các bà phi. Đàn ông đâu có được sờ vào người các bà ấy. Lương chẳng bao nhiêu, nhưng có gạo, có chỗ ngủ, được ra vào cung, lại được theo thái y đi khám các nơi. – Ông khách cười. – Có đứa con gái nhà tôi cũng muốn thi, mà chữ không biết, thuốc không biết, thi gì.

Ngải nắm chặt cái khăn trong tay. Nước sông lạnh buốt chảy qua kẽ ngón.

Được theo thái y đi khám các nơi.

Nàng không biết những nơi ấy có Ngục Bắc hay không. Nhưng nàng biết, ở cái kinh thành mà nàng không quen một người nào ấy, đây là cánh cửa đầu tiên có người chỉ cho nàng thấy.

Đêm thứ tư, đò neo giữa sông vì gió ngược. Cả đò ngủ say, tiếng ngáy lẫn tiếng sóng. Ngải không ngủ được. Nàng ngồi dậy, thắp ngọn đèn con, lấy gói vải chàm trong đáy thúng ra.

Từ hôm mở ra lần đầu, nàng đã nhìn cái bát mấy chục lần. Nàng biết từng vết rạn trên lớp men, biết hình cái chỗ sứt ở miệng. Nàng biết lớp cặn khô dưới đáy có màu nâu sẫm, giữa có một mảng sẫm hơn, quanh viền có vài hạt nhỏ như cát, chắc là vụn của vị thuốc nào đó sắc chưa nát. Nàng không biết đó là thuốc gì. Nàng không dám cạy ra, không dám ngửi kỹ, vì cha dặn đừng mở, mà nàng đã cãi lời cha một lần rồi.

Đêm nay nàng làm một việc nàng chưa làm. Nàng lật ngược cái bát lại, cẩn thận để lớp cặn không rơi, đưa chân đế lên sát ngọn đèn.

Chân đế bát mộc, không tráng men, màu đất nung nhạt. Ở giữa có một dấu khắc nhỏ, nông, nhỏ hơn đầu ngón tay út. Ngải nheo mắt nhìn. Một bông sen. Một bông sen khắc bằng hai nét, một nét cong làm cánh, một nét thẳng làm cuống, gọn và thanh như người viết chữ đẹp ký tên.

Nàng chưa từng thấy dấu này trên bất cứ cái bát nào. Bát chợ không có dấu. Bát nhà giàu như nhà lý trưởng có in chữ Phúc, chữ Thọ bằng men lam. Còn dấu bông sen hai nét thì nàng chưa từng thấy.

Nàng úp cái bát lại, gói vào giấy dó, bọc vải chàm, buộc dây gai đúng cái nút cũ của cha. Rồi nàng ngồi ôm thúng khâu nhìn ra mặt sông đen.

Chiều ngày mùng bảy, đò về tới kinh.

Thuận Kinh hiện ra từ xa như một vệt dài xám xanh nằm dọc bờ Lô Giang: tường thành, mái ngói, ngọn tháp chùa, khói bếp. Gần hơn thì là bến. Ngải chưa từng thấy bến nào lớn như thế: hàng trăm chiếc thuyền neo san sát, buồm nâu, buồm trắng, người vác hàng chạy như kiến trên những tấm ván bắc từ thuyền lên bờ, tiếng rao, tiếng chửi, tiếng gà vịt, mùi cá khô, mùi vôi, mùi gỗ ướt. Bên trên bến là cổng thành phía nam, hai cánh cửa gỗ lớn bịt đồng, có lính đứng gác.

Ông lái Cả Đước giúp nàng xách tay nải lên bờ. Vợ ông dúi vào tay nàng một nắm ổi, con Sứa bám váy mẹ, vẫy tay. Ngải vẫy lại, rồi quay lưng, đi theo dòng người về phía cổng thành.

Đến chân dốc thì người ta dạt ra hai bên.

Một đoàn xe tù đang từ con đường đất bên kia kéo tới, hai xe bò, mỗi xe một cái cũi gỗ, lính áo nâu đi kèm. Bụi đỏ bám đầy bánh xe. Mấy người dân đứng xem, chỉ trỏ. Ngải đứng sau một gánh vôi, kiễng chân nhìn.

Xe dừng trước cổng. Lính mở cũi đầu tiên, kéo người bên trong xuống để khám xét trước khi vào thành. Người ấy gầy, tóc rối bết, áo cánh rách vai, cổ đeo gông. Hắn bị lôi xuống đất, chân chạm đất thì khuỵu xuống. Hắn bám vào thành xe, đứng dậy, bước một bước.

Chân trái hắn kéo lê trên đất, để lại một vệt dài trong lớp bụi đỏ.

Ngải đứng chết lặng sau gánh vôi, tay bóp nát quả ổi lúc nào không biết.

— Hết chương 3 —

Mục lục Đáy bát không nói dối

  1. 1Hàng kiến lúc rạng sáng12 phút
  2. 2Công đường phủ Phù Vân11 phút đọc
  3. 3Năm ngày đò dọc10 phút đọc
  4. 4Cổng Đại lý tự10 phút đọc
  5. 5Bốn mươi người, sáu chỗ11 phút đọc
  6. 6Nữ y sở10 phút đọc
  7. 7Khám ngục mùng Một11 phút đọc
  8. 8Khói than ở điện Cảnh Phúc11 phút đọc
  9. 9Dấu sen hai nét11 phút đọc
  10. 10Đám ma không kèn11 phút đọc
  11. 11Sỏi trắng, sỏi đen11 phút đọc
  12. 12Niêm giấy bị xé10 phút đọc
  13. 13Nước cháo muối10 phút đọc
  14. 14Sân sỏi trước Chính đường11 phút đọc
  15. 15Lá ngải giờ Ngọ10 phút đọc
  16. 16Buồng giam số bảy10 phút đọc
  17. 17Mứt quất10 phút đọc
  18. 18Nén hương ngày mười chín12 phút đọc
  19. 19Một lời chứng không ai dám nói12 phút đọc
  20. 20Chợ Thuốc phố Hàng Rễ11 phút đọc
  21. 21Xác ở cống Lá10 phút đọc
  22. 22Đêm ở nhà Viện sứ10 phút đọc
  23. 23Ghế Viện sứ10 phút đọc
  24. 24Điện Khôn Ninh10 phút đọc
  25. 25Ngõ Vạn Chài10 phút đọc
  26. 26Lửa ở Đại lý tự10 phút đọc
  27. 27Thang thuốc của sư bá10 phút đọc
  28. 28Cục đường phèn10 phút đọc
  29. 29Sư bá11 phút đọc
  30. 30Đêm Trung thu10 phút đọc
  31. 31Hội đồng thu thẩm11 phút đọc
  32. 32Hai nồi thuốc11 phút đọc
  33. 33Hàng kiến trước điện11 phút đọc
  34. 34Lời khai của Tôn Bá Hựu10 phút đọc
  35. 35Tên thật10 phút đọc
  36. 36Giỗ đầu ở Vũng Cói10 phút đọc

Về truyện này

Đáy bát không nói dối là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →