Chương 13: Nước cháo muối
– Một thìa. – Ngải nói. – Chỉ một thìa thôi. Nuốt được thì chị cho thìa nữa.
Lụa nằm nghiêng trên chiếc chiếu trong gian kho nhỏ sau đình, mắt nhắm nghiền, môi nứt nẻ trắng bệch. Ngải đỡ đầu Lụa lên, kề cái thìa sứ vào môi. Lụa nuốt. Một lúc sau, Lụa không nôn. Ngải múc thìa thứ hai.
Gian kho ấy trước đây chứa chiếu với mâm đồng của đình, hẹp, chỉ có một ô cửa sổ nhỏ trông ra vườn chuối. Sáng mười lăm, Ngải bắt hai người lính dọn sạch, quét vôi nền, trải chiếu mới, rồi tự tay đỡ Lụa vào. Nàng không cho Lụa nằm chung gian với những người bệnh khác, không cho ai vào ngoài nàng. Cửa gian kho có một chậu nước sôi để nguội với một bánh bồ kết, ai ra vào cũng phải rửa tay. Quần áo Lụa thay ra, khăn lau người, chiếu bẩn, nàng cho đem ra góc vườn đốt.
Cái nồi trên bếp lò đặt ngay trước cửa gian kho sôi suốt ngày đêm. Nàng nấu cháo thật loãng, chắt lấy nước, cho một nhúm muối nhỏ, nếm thấy mằn mặn như nước mắt thì thôi. Mẹ nàng ngày xưa dạy thế, cha nàng dạy thế, người đàn bà nào ở Vũng Cói cũng biết thế: đứa trẻ nào đi ngoài nhiều, nôn nhiều, thì cho uống nước cháo muối, uống từng thìa, uống không ngừng. Người ta khô đi mà chết, chứ không phải chết vì bệnh. Giữ được nước trong người là giữ được mạng.
– Chị Ngải… – Lụa mở mắt, giọng như hơi gió. – Em có chết không?
– Không. – Ngải nói. – Em mà chết thì ai hát cho chị nghe lúc rửa bát.
Lụa cười, rồi lại nhắm mắt.
Ngày đầu, Lụa đi ngoài hơn hai mươi lần, nôn bảy lần. Đến chiều, mắt Lụa đã trũng xuống, da tay véo lên không xẹp ngay. Ngải ngồi bên chiếu, thìa này nối thìa kia, nước cháo muối, nước sôi để nguội, rồi lại nước cháo muối. Lụa nôn ra thì nàng chờ một lúc rồi cho uống tiếp, ít hơn. Nàng không đếm thời gian. Nàng chỉ đếm thìa.
Gần nửa đêm, cửa gian kho mở. Uyển Nhi đứng ở ngưỡng cửa, tay cầm cái đèn dầu, mặt trắng như giấy.
– Cô đi ngủ đi. – Uyển Nhi nói. – Tôi ngồi thay.
Ngải ngẩng lên. Uyển Nhi vẫn mặc cái áo lụa hồng nhạt, tóc vẫn cài trâm bạc, nhưng hai ống tay áo đã xắn cao đến khuỷu, hai bàn tay đỏ ửng vì vừa rửa nước bồ kết.
– Cô sợ mà. – Ngải nói. – Hôm trước Lụa kể cô chạy ra sau đình…
– Tôi sợ. – Uyển Nhi nói. – Cô đi ngủ đi.
Cô ta bước vào, đặt đèn xuống góc, quỳ xuống bên chiếu, cầm lấy cái bát nước cháo muối với cái thìa trong tay Ngải. Ngải thấy tay cô ta run. Nhưng cô ta múc một thìa, kề vào môi Lụa, rất nhẹ, rất đúng.
– Một thìa. – Uyển Nhi nói, như đọc thuộc lòng. – Nuốt được thì cho thìa nữa. Nôn thì chờ, rồi cho ít hơn. Tôi đứng ngoài cửa nghe cô nói cả buổi chiều rồi.
Ngải nằm xuống chiếc chiếu trải ngay ngưỡng cửa, ngoài gian kho, lưng dựa vách. Nàng định chỉ nhắm mắt một lát. Khi nàng mở mắt thì trời đã sáng, có ai đã đắp lên người nàng một cái áo dài lụa hồng nhạt thơm mùi hoa nhài. Trong gian kho, Uyển Nhi vẫn ngồi đó, tay vẫn cầm thìa, mắt đỏ quạch, tóc xổ một bên. Cái bát nước cháo muối đã được nấu lại mới. Dưới chân Uyển Nhi có một vết ố, đã được lau, chưa khô hẳn.
– Đêm qua Lụa nôn ra người tôi. – Uyển Nhi nói, không quay lại. – Tôi không chạy.
Ba ngày tiếp theo, hai người thay nhau. Ngải ngồi ngày, Uyển Nhi ngồi đêm. Ngày, ngoài lúc ngồi với Lụa, Ngải vẫn khám bệnh ở gian bên, vẫn đi các ngõ với thằng Cò. Nàng không xếp thêm sỏi lên sân. Nàng chỉ ghi nhớ mỗi ngày có bao nhiêu người mới mắc, ở ngõ nào, uống giếng nào, rồi tối về đặt thêm một viên xỉ đen hay đá trắng nhỏ hơn bên cạnh mấy viên cũ.
Ngày mười ba, xóm Đá Ong có sáu người mới mắc. Ngày mười bốn, năm. Ngày mười lăm, bốn. Ngày mười sáu, hai. Ngày mười bảy, một. Ngày mười tám, không có ai.
Ở giếng Cây Si, ngày mười tám có ba người mới mắc. Ngày mười chín, thêm hai.
Ngải đứng trên thềm đình, nhìn những viên sỏi nhỏ mới đặt. Quanh giếng Đá Ong, đám đen không lớn thêm nữa. Còn quanh cái bát úp ở chỗ giếng Cây Si, lần đầu tiên, có một vệt đen nhỏ mới nhú lên, như vết mốc đầu tiên trên lát hoài sơn.
Tối mười chín, nàng kể cho Uyển Nhi nghe, lúc hai người đổi phiên. Uyển Nhi ngồi lặng một lúc.
– Ông tôi sẽ không tin đâu. – Cô ta nói.
– Tôi biết.
– Không phải vì ông tôi ghét cô. – Uyển Nhi nói, mắt nhìn ngọn đèn. – Ông tôi không tin cái gì không có trong sách. Từ bé tôi đã thấy thế. Ông tôi đọc sách đến mức thuộc từng chữ của từng phương thuốc, từng chú giải. Nhưng ông có một thói quen lạ. Nồi thuốc nào sắc ở Ngự dược phòng mà dâng lên các bà phi, ông cũng tự tay nếm cặn nồi trước khi cho đổ. Ai can cũng không nghe. Người ta bảo ông cẩn thận. Tôi hỏi ông vì sao. Ông chỉ bảo, có một lần ông không nếm, rồi ông hối.
Ngải nhìn Uyển Nhi.
– Lần ấy là lần nào?
– Ông không nói. – Uyển Nhi lắc đầu. – Tôi hỏi bà nội, bà nội bảo từ hồi tôi còn bé tí, chưa biết gì. Ông về nhà, ngồi trong thư phòng một đêm không ngủ. Từ đó ông bắt đầu nếm.
Lụa trở mình trên chiếu, rên khe khẽ. Uyển Nhi cúi xuống, lấy khăn lau trán cho Lụa. Ngải đứng dậy, ra ngoài. Nàng đứng một mình trên thềm đình, nhìn cái sân sỏi dưới ánh trăng mười chín vừa lên sau rặng tre, mờ và khuyết.
Sáng hai mươi, Hàn Kỳ đến đình. Từ đêm mười bốn đến giờ, hai người chỉ gặp nhau ở đầu ngõ, ở cổng đình, nàng cúi chào, anh gật đầu, không ai nói thêm câu nào. Sáng nay anh đứng ở chân thềm, sau lưng là một người lính vác bao tải.
– Muối. – Anh nói. – Trưởng phường bảo bếp đình hết muối từ hôm qua.
– Đa tạ Thiếu khanh. – Ngải nói, giọng khách sáo như nói với một ông quan nàng chưa từng gặp.
Anh nhìn nàng, rồi nhìn xuống sân, nơi những viên sỏi mới nhỏ hơn nằm cạnh cái bát úp ở chỗ giếng Cây Si. Anh đứng nhìn một lúc lâu, môi mấp máy như đang đếm.
– Năm người trong hai ngày. – Anh nói. – Ta sẽ trình.
– Thiếu khanh trình thì người ta tin. – Ngải nói. – Con nói thì người ta cười.
Anh quay sang nàng. Một thoáng nàng tưởng anh sẽ nói gì đó. Nhưng anh chỉ gật đầu, rồi quay đi. Người lính đặt bao muối xuống bậc thềm, chạy theo anh. Ngải đứng nhìn cái lưng áo xanh thẫm khuất sau cổng đình, rồi xách bao muối vào bếp, tự trách mình đã nói câu ấy, rồi lại tự bảo mình không có gì phải trách.
Ngày hai mươi mốt, Lụa ngồi dậy được, đòi ăn cháo hến.
– Cháo hến của bà Tư thì không được. – Ngải nói.
– Bà Tư bây giờ đun nước sông rồi. – Lụa cãi, giọng còn yếu nhưng đã có cái âm điệu kéo dài của dân Cửa Hến. – Hôm qua thằng Cò bảo bà ấy đun sôi cả nước rửa hến. Bà ấy còn bắt khách rửa tay mới cho ngồi.
Ngải nhìn ra cửa sổ. Thằng Cò đang ngồi xổm ngoài vườn chuối, ăn một bát cháo hến bốc khói, thấy nàng thì giơ bát lên vẫy.
Hóa ra ngày mười tám, bà Tư Hến đến đình. Ngải không có ở đó, đang đi các ngõ. Bà đứng giữa sân sỏi, nhìn rất lâu cái đám xỉ đen quanh giếng Đá Ong, rồi hỏi thằng Cò cái viên xỉ đen nào là nhà cô bé nữ y ốm vì uống nước của bà. Thằng Cò bảo cô ấy không ở phường, không có viên nào. Bà Tư đứng thêm một lúc, rồi về, không nói gì. Sáng hôm sau, gánh cháo hến của bà ra bến muộn hơn mọi ngày một canh giờ, vì bà ngồi đun nước.
Chiều hai mươi mốt, Ngải đang ngồi bón cháo cho Lụa thì có người của Thái y viện đến đình. Một y chính phái Kinh phương, mặt lạnh, tay cầm một tờ giấy có dấu đỏ.
– Nữ y sinh Nghiêm Thị Ngải. – Ông ta đọc. – Theo lệnh Viện sứ: tự ý bày trò, xúi quan coi phường đóng giếng của dân, không theo phép chữa dịch của Viện, làm loạn lòng dân. Lập tức rút về Nữ y sở, chờ Viện xét phạt.
Lụa buông thìa, ngồi bật dậy, rồi lảo đảo suýt ngã. Ngải đỡ Lụa nằm xuống.
– Bẩm, Lụa chưa khỏi hẳn. Con xin ở lại thêm hai hôm…
– Lệnh Viện sứ. – Y chính nói. – Giờ Dậu phải có mặt ở Nữ y sở.
– Ông tôi ra lệnh ấy à?
Uyển Nhi đứng ở cửa gian kho. Cô ta vừa ngủ dậy, tóc chưa vấn, mắt còn đỏ, nhưng giọng thì thanh và rõ như hôm đỗ đầu kỳ thi. Y chính nhìn cô ta, nét mặt hơi bối rối.
– Bẩm cô, đúng là lệnh Viện sứ.
– Thế thì tôi về với cô ấy. – Uyển Nhi nói. – Tôi muốn hỏi ông tôi mấy câu.
Giờ Dậu hôm ấy, Ngải và Uyển Nhi về đến Thái y viện. Lụa ở lại đình với nữ y Sen, người được cử xuống thay. Uyển Nhi không về Nữ y sở. Cô ta đi thẳng sang dãy nhà phía bắc, nơi Viện sứ làm việc. Ngải đứng chờ ngoài sân, dưới gốc cây thị, không biết mình chờ để làm gì.
Qua mấy ô cửa sổ mở, nàng nghe giọng Uyển Nhi vọng ra, thanh và cao, không giống giọng một đứa cháu nói với ông nội.
– …ông chưa xuống đình xem lấy một lần. Ông xem từ cổng rồi đi. Xóm Đá Ong từ hôm đóng giếng mỗi ngày một ít người mới ốm, từ hôm mười tám thì không còn ai, ông có biết không? Giếng Cây Si bắt đầu có người ốm, ông có biết không? Ông bảo phải theo sách. Sách nào bảo người ta chết vì khô mà phát thang giải độc? Lụa sống là nhờ nước cháo muối của cô ấy, ông ạ, không phải nhờ thang của Viện…
Rồi giọng Khâu, thấp, khô, không rõ chữ.
Rồi im lặng.
Một lúc lâu, Uyển Nhi đi ra. Mặt cô ta đỏ bừng, mắt long lanh như sắp khóc, nhưng không khóc. Cô ta đi thẳng đến gốc cây thị, đứng trước mặt Ngải.
– Ông tôi không phạt cô. – Uyển Nhi nói.
Ngải thở ra.
– Ông tôi bảo, ngày hai mươi lăm, Viện họp bàn việc chữa dịch, có người của triều đình dự. Ông tôi muốn cô có mặt. – Uyển Nhi ngừng lại. Môi cô ta mím chặt. – Ông tôi bảo, để cho lang vườn biết thế nào là y lý.
— Hết chương 13 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe