Chương 36: Giỗ đầu ở Vũng Cói
Cây gạo đầu bến Vũng Cói lại nở hoa đỏ ối, đúng như ngày Ngải xuống đò năm ngoái.
Đò của ông lái Cả Đước cập bến chiều mười bốn tháng Giêng năm Hoằng Khánh thứ hai mươi ba. Con bé Sứa, tám tuổi, nhảy lên bờ trước cả bố, rồi đứng ở gốc gạo vẫy rối rít về phía mấy đứa trẻ con đang chạy ra xem đò. Ông lái Cả Đước không lấy tiền đò của hai cha con. Ông bảo năm ngoái cô Ngải lấy công lau mát cho con ông cả đêm, ông chưa trả.
Cha nàng đứng ở mũi đò, nhìn bãi cói xám bạc chạy dài dọc sông, nhìn rặng tre, nhìn mái ngói nhà lý trưởng thấp thoáng sau hai cây cau. Ông đứng rất lâu. Rồi ông chống gậy bước lên ván, chân trái kéo lê trên tấm ván ướt, chậm, vững.
Trên bờ có một người đàn bà già đứng chờ, tay chống nạnh, miệng đã bắt đầu chửi từ khi đò còn cách bến mười sải.
– Lão Nghiêm! Lão đi một năm, tiền bà cho con lão vay chưa trả, lão về tay không hả!
Bà Ba Chè. Cha nàng đứng trước mặt bà, cúi đầu thật thấp. Bà Ba Chè nhìn ông từ đầu đến chân, nhìn cái gậy tre, nhìn mái tóc bạc trắng hai bên thái dương. Rồi bà thôi chửi. Bà nắm lấy tay áo ông, kéo đi, như kéo một đứa trẻ đi lạc về nhà.
Ngôi nhà ba gian vẫn đứng đó. Hai miếng ngói vỡ năm ngoái đã có người thay. Mấy chữ than nguệch ngoạc trên cửa không còn. Sân quét sạch. Gian giữa trống trơn, chỗ cái tủ thuốc ngày xưa kê bây giờ chỉ còn bốn vết chân tủ hằn trên nền đất.
– Ruộng bà cho người cấy rẽ, thóc bà để trong bồ. – Bà Ba Chè nói. – Cái tủ thuốc thì bà bán rồi. Bà cần tiền.
– Bán cho ai hả bà? – Ngải hỏi.
Bà Ba Chè không trả lời. Bà quay vào bếp nhóm lửa nấu nồi cháo đậu xanh.
Tin ông thầy Nghiêm về làng lan khắp Vũng Cói trước khi trời tối. Nhót đã về từ tháng Chín, đã kể. Người làng biết chuyện ông khách Phương Tứ, chuyện cục đường phèn, chuyện ông thầy lang hóa ra là thầy thuốc trong cung bị oan mười bảy năm. Nhưng người làng chỉ đứng ở đầu ngõ nhìn vào, không ai bước qua cổng. Có bà cụ Tám bên xóm chài chống gậy sang, đứng ở cổng thở khò khè, nhìn cha nàng một lúc lâu, rồi bảo: thầy về rồi thì mai thầy sang xem cho tôi, đêm qua tôi lên cơn. Rồi bà về.
Ông lý không sang.
Sáng mười sáu tháng Giêng, giỗ đầu cậu Toàn.
Cha nàng dậy từ canh tư. Ngải nghe tiếng ông lục đục ngoài gian giữa, tiếng gậy chạm nền đất. Ông thắp đèn, ngồi im bên bàn rất lâu. Trời còn tối đặc, trăng mười sáu đã ngả về phía bãi sông, tròn và nhạt. Đúng giờ này một năm trước, Nhót đập cửa.
Khi trời rạng, ông mặc cái áo dài nâu cũ, cầm ba nén hương, chống gậy đi sang nhà lý trưởng. Ngải đi sau ông.
Cổng nhà ngói năm gian mở toang. Trong sân đã có người làng đến giỗ, đứng ngồi lố nhố. Khi cha nàng bước qua cổng, mọi người im bặt. Có người đứng dậy. Có người lùi lại.
Lý trưởng Bạch Văn Thể đứng ở thềm gian giữa. Ông già đi nhiều. Cái thân hình to béo ngày xưa đã xọp xuống, mặt vuông chảy xệ, tóc bạc quá nửa. Ông nhìn cha nàng. Ông không nói gì.
Cha nàng dừng lại dưới thềm. Ông cúi đầu.
– Ông lý. – Ông nói. – Cho tôi thắp cho cháu nén hương.
Lý trưởng nhìn ông rất lâu. Bà lý đứng sau chồng, tay bịt miệng. Rồi lý trưởng tránh sang một bên, đúng như rạng sáng mười sáu tháng Giêng năm ngoái.
Cha nàng vào gian buồng đông. Gian buồng ấy giờ là bàn thờ. Trên bàn thờ có một tấm bài vị mới sơn, một bát hương, một đĩa xôi, một con gà luộc, một đĩa bánh. Cái ghế đẩu kê sát đầu giường năm xưa, bây giờ kê sát chân bàn thờ. Cha nàng thắp ba nén hương, cắm vào bát. Ông đứng chắp tay, rất lâu.
Ngải đứng ở ngưỡng cửa. Nàng nhìn cái ghế đẩu. Nàng nhìn khe tường đất nơi năm ngoái có một hàng kiến bò ra. Hôm nay không có con kiến nào. Đĩa bánh ngọt trên bàn thờ nằm yên dưới làn khói hương.
Khi cha nàng quay ra, lý trưởng vẫn đứng ở thềm. Ông nói, lần đầu tiên, giọng khàn như tro:
– Con Nhót kể rồi. Tôi muốn nghe thầy kể.
Cha nàng kể. Không phải ở thềm, trước mặt cả làng. Ông với lý trưởng ngồi ở hiên sau, chỗ cái chum nước mưa, chỗ năm ngoái hai cha con đứng chờ trời sáng. Ngải đứng ở xa, không nghe được. Nàng chỉ thấy cha nàng nói chậm, từng câu ngắn, tay đặt trên đầu gối. Lý trưởng ngồi im, hai bàn tay to bè nắm lại đặt trên đùi. Có một lúc ông lý cúi gập người xuống, như người bị ai đánh vào bụng. Cha nàng ngừng nói, chờ. Rồi lại nói tiếp.
Khi cha nàng đứng dậy, lý trưởng vẫn ngồi đó. Ông không nói một câu nào. Không xin lỗi. Không cảm ơn. Ông chỉ nhìn ra bãi cói xám bạc ngoài kia.
Hai cha con về nhà. Đến cổng, cha nàng dừng lại, quay nhìn mái ngói nhà lý trưởng sau hai cây cau.
– Ông ấy thương con. – Cha nàng nói. – Ông ấy tát cha, vì ông ấy thương con. Con nhớ thế.
Sáng mười bảy, Ngải đang quét sân thì nghe tiếng chân nặng nề ở ngõ.
Lý trưởng Bạch Văn Thể đi vào cổng. Trên vai ông là cái tủ thuốc gỗ mít đen bóng của cha nàng, cái tủ có mấy chục ngăn kéo nhỏ, chân đã bị mọt ăn. Ông vác nó một mình. Cái tủ nặng, ông đi chúi người về phía trước, mặt đỏ gay, mồ hôi chảy ròng ròng dù trời rét căm căm. Sau lưng ông, bà Ba Chè đứng ở đầu ngõ, khoanh tay, không nói gì.
Ông lý vác cái tủ qua sân, qua thềm, vào gian giữa. Ông đặt nó xuống, đúng vào bốn vết chân tủ hằn trên nền đất, xê dịch mấy lần cho khớp. Rồi ông đứng thẳng lên, thở hồng hộc.
Cha nàng đứng ở cửa buồng nhìn ông.
Lý trưởng không nhìn cha nàng. Ông rút trong túi áo ra một cái khăn, lau mặt cái tủ, lau từng ngăn kéo, chậm, kỹ. Lau xong, ông gấp khăn bỏ vào túi, gật đầu một cái rất khẽ với cái tủ, như gật đầu với một người. Rồi ông đi ra.
Ra đến cổng, ông dừng lại một chút. Ông không quay đầu.
– Thầy Nghiêm. – Ông nói. – Bà nhà tôi đêm qua ho.
– Tối tôi sang. – Cha nàng nói.
Ông lý gật đầu, đi.
Bà Ba Chè vẫn đứng ở đầu ngõ. Khi ông lý đi qua, bà chép miệng, rồi quay sang nhìn Ngải, bảo:
– Bà bán cho lão ấy từ tháng Chín. Đắt gấp ba. Lão không mặc cả câu nào.
Chiều mười bảy, khi mặt trời đã ngả về bãi sông, có một người đàn ông đi bộ từ phía bến vào làng.
Ngải đang ngồi trên thềm, nhặt rau. Nàng ngẩng lên. Người ấy gầy, cao, đi thẳng như cái thước, áo dài xanh thẫm của người thường đã bạc ở hai khuỷu tay, giày vải trắng bụi đường. Một tay xách cái tay nải nhỏ. Tay kia buông bên hông, ngón cái miết lên ngón giữa.
Nàng đặt rổ rau xuống.
– Đò chậm. – Hàn Kỳ nói, khi đã đứng ở cổng. – Gió ngược hai ngày. Tôi đến muộn một ngày.
– Giỗ xong rồi.
– Tôi biết. – Anh nói. – Tôi vẫn đến.
Cha nàng ra đến cửa, chống gậy, nhìn người đàn ông đứng ở cổng. Hai người nhìn nhau. Người từng ghi hai chữ y án vào hồ sơ của ông. Người từng đứng quay lưng ở đầu dãy nhà Ngục Bắc một nén hương.
– Thiếu khanh. – Cha nàng nói.
– Ở đây không có Thiếu khanh. – Hàn Kỳ nói. – Cháu xin phép vào.
Cha nàng nhìn anh thêm một lúc. Rồi ông tránh sang một bên.
Bữa cơm tối, ba người ngồi quanh mâm, bà Ba Chè nấu thêm một nồi canh cua. Ăn được lưng bát, Hàn Kỳ đặt đũa xuống.
– Án ông Tôn thì bác với Ngải biết rồi. – Anh nói. – Hai mươi tháng Chạp tuyên, án chết, thi hành sau tiết Sương giáng năm nay. Hôm trước khi xuống đò, tôi có qua ngục bộ Hình. Từ hôm nghe tuyên đến giờ, ông ấy không kêu một câu. Người lính ngục bảo tối nào cũng sắc cho ông ấy một ấm thuốc ho, lửa nhỏ, như bác dặn. Ông ấy uống hết, không đòi gì.
Cha nàng không nói gì. Ông cầm bát cơm lên, ăn tiếp. Một lúc lâu, ông mới gật đầu, rất khẽ, như người nghe tin một người quen ở xa.
Ăn cơm xong, cha nàng sang nhà lý trưởng xem bệnh cho bà lý. Khi ông về, trăng mười bảy đã lên, vàng đục, khuyết một bên. Ông không vào nhà. Ông đi ra sau bếp, chỗ cái chum nước mưa. Ông bảo Ngải mang cái gói vải chàm ra.
Nàng mang ra. Hàn Kỳ đi theo nàng, đứng ở góc bếp.
Cha nàng ngồi xổm bên chum nước. Ông tháo cái nút dây gai, nút của ông buộc mười bảy năm, nút nàng buộc lại trên đò dọc, nút Hàn Kỳ buộc lại trong công phòng Đại lý tự. Lớp vải chàm sém một góc. Lớp giấy dó. Cái bát men ngọc xanh nhạt, miệng sứt hình móng tay.
Ông nghiêng nó lên dưới ánh trăng, nhìn vào đáy lần cuối. Lớp cặn nâu sẫm nứt chân chim, mảng sẫm ở giữa, vòng hạt nhỏ như cát quanh viền. Đáy bát của thầy.
Rồi ông múc một gáo nước mưa, đổ vào bát.
Ngải đứng nhìn. Nàng không nói gì. Nàng nghe tiếng nước chảy vào cái bát men ngọc mỏng, nghe tiếng ngón tay cha nàng xoa nhẹ lên lớp cặn. Lớp cặn mười bảy năm mềm ra, tan dần, lẫn vào nước, thành một màu nâu nhạt. Ông đổ nước ấy xuống gốc chuối cạnh chum, múc gáo khác, rửa lại. Rồi gáo nữa. Ba lần nước.
Cái bát sạch trơn trong tay ông, xanh nhạt như nước sông mùa cạn, đưa lên trăng thì thấy ánh sáng xuyên qua lờ mờ.
Cha nàng úp nó lên bậc đá cạnh chum cho ráo nước. Rồi ông đứng dậy, chống gậy, đi vào nhà.
Hàn Kỳ vẫn đứng ở góc bếp. Anh nhìn cái bát úp trên bậc đá.
– Năm sau. – Anh nói. – Tôi sẽ đến đúng ngày.
Ngải không trả lời. Nàng đứng bên chum nước, nhìn cái bát.
Dưới chân chum, từ khe tường đất, có một con kiến đen nhỏ bò ra, loại kiến đường, mò mẫm trên bậc đá. Nó bò đến chân cái bát úp. Nó leo lên đế bát, quờ quạng quanh dấu sen hai nét. Nó bò một vòng.
Rồi nó bò đi.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe