Chương 11: Sỏi trắng, sỏi đen
– Con điên này! Mày giật cái gáo của con tao làm gì?
Người cha lao ra khỏi nhà, tay vẫn cầm cái đòn gánh. Đứa bé năm tuổi khóc òa. Đứa ba tuổi khóc theo. Người mẹ đứng sững ở cửa bếp, hai tay còn ướt nước vo gạo.
Ngải không lùi. Nàng ôm cái gáo dừa vào ngực, như sợ ai giật lại.
– Anh chị đừng cho các cháu uống nước giếng này nữa. – Nàng nói. – Ít nhất đừng uống sống. Đun sôi lên rồi hẵng uống. Nấu cơm cũng phải đun sôi kỹ.
– Mày là ai mà bảo tao?
– Em là nữ y Thái y viện, xuống chữa dịch. – Nàng nói, giọng run, không phải vì sợ cái đòn gánh. – Hôm qua em đến nhà anh chị. Cháu bé…
Nàng không nói hết. Người cha đứng im. Cái đòn gánh trên tay anh ta hạ xuống dần. Anh ta nhìn nàng, rồi nhìn cái giếng, rồi nhìn đứa con năm tuổi đang khóc.
– Giếng này cả xóm uống bao nhiêu năm nay. – Anh ta nói, giọng khàn. – Ông bà tôi uống. Bố mẹ tôi uống.
– Em biết. – Ngải nói. – Em không biết có phải tại giếng không. Nhưng ba nhà có người chết đều ở quanh đây. Anh chị đun sôi nước thì cũng chẳng mất gì, chỉ tốn thêm ít củi.
– Củi không phải tiền à? – Người mẹ nói, giọng chua chát, rồi bỗng òa khóc, ngồi sụp xuống ngưỡng cửa.
Ngải trả cái gáo dừa cho người cha. Anh ta cầm lấy, không nói gì. Nàng đứng chờ. Một lúc sau, anh ta đổ thùng nước vào cái nồi to nhất trong nhà, bắc lên bếp, nhóm lửa.
Ngải về đình, không ăn sáng. Nàng ngồi trên bậc thềm, nhìn ra cái sân gạch vồ, nghĩ.
Nàng không có gì trong tay. Không có sách, không có thầy, không có phương thuốc nào nói nước giếng gây dịch. Nàng chỉ có một cảm giác, giống cái cảm giác khi thấy hàng kiến bò lên miệng bát: có một con đường mà người ta không nhìn thấy, vì người ta không cúi xuống. Hôm ở phủ Phù Vân, nàng nói ra cái điều nàng thấy, và cả công đường cười. Lần này nàng không muốn nói ra khi chỉ có một mình mình thấy.
Nàng cần đếm.
– Chị nữ y ơi, có cơm thừa không?
Một thằng bé chừng mười tuổi đứng ở chân thềm, đen nhẻm, gầy như que củi, mặc cái áo rách vai, chân trần trắng bụi vôi. Mắt nó lanh như mắt sóc.
– Em tên gì?
– Cò. – Nó nói. – Không cha không mẹ. Ngủ ở lò vôi ông Bảy. Chạy việc ai cũng được.
– Em biết hết các nhà trong phường không?
– Biết hết. Nhà nào có chó dữ, nhà nào có con gái đẹp, nhà nào nợ tiền ông trưởng phường. – Nó nhe răng cười. – Biết hết.
Ngải đứng dậy, vào gian bếp của đình, lấy hai nắm cơm và một con cá kho, đưa cho nó.
– Ăn xong thì dẫn chị đi từng nhà. Hỏi ba câu thôi: nhà có mấy người, có ai ốm không, uống nước ở đâu. Chị trả em mỗi ngày mười đồng.
Thằng Cò nhét cả nắm cơm vào miệng, gật đầu lia lịa.
Ba ngày, từ mùng mười đến mười hai tháng Tư, Ngải với thằng Cò đi khắp phường Bến Vôi. Buổi sáng nàng khám bệnh ở đình với Lụa và Uyển Nhi. Từ giờ Mùi đến lúc tối mịt, nàng đi. Thằng Cò dẫn đường, gõ cửa, nói giọng phường cho người ta mở. Nàng hỏi ba câu. Ba câu thôi, không hỏi thêm. Có nhà không chịu trả lời, đóng sầm cửa lại. Có nhà mời nàng vào, rót nước mời nàng uống, nàng cảm ơn rồi không uống. Có nhà vừa có người chết, nàng đứng ở ngưỡng cửa, hỏi khẽ, rồi đi.
Nàng không ghi vào sổ. Nàng không có sổ, mà có sổ thì cũng chẳng biết ghi làm sao cho người khác xem được. Nàng làm một việc khác.
Trên cái sân gạch vồ rộng của đình, nàng lấy que tre vạch những đường ngang dọc: đây là con đường lớn, đây là cống Lá, đây là bờ sông, đây là các ngõ. Nàng lấy ba cái bát sành mượn của bếp đình, úp xuống ba chỗ: giếng Đá Ong, giếng Cây Si, giếng Ngõ Thợ Nhuộm. Ở góc đình, chỗ cái bể nước mưa, nàng đặt một cái bát thứ tư. Rồi thằng Cò chạy ra bờ sông nhặt về hai rổ đá: một rổ những mẩu đá vôi vụn trắng nhờ nhờ, rơi vãi từ thuyền chở đá; một rổ những cục xỉ than đen sì, đổ ra từ các lò vôi.
Mỗi nhà đi qua, nàng đặt một viên xuống sân, đúng chỗ nhà ấy nằm, gần cái bát của cái giếng nhà ấy uống. Nhà không ai ốm thì đặt đá trắng. Nhà có người ốm thì đặt xỉ đen. Nhà có người chết thì đặt hai cục xỉ đen chồng lên nhau.
Lụa đứng xem nàng làm đến tối ngày thứ hai thì bật cười.
– Chị Ngải bày cờ à?
– Ừ. – Ngải nói, không ngẩng lên. – Bày cờ.
Đến chiều ngày mười hai, Ngải đặt xong viên cuối cùng. Hai trăm sáu mươi ba nhà, hơn nửa phường. Nàng đứng lên thềm đình, nhìn xuống sân.
Và nàng thấy.
Quanh cái bát úp ở chỗ giếng Đá Ong, xỉ đen dồn lại thành một đám, đen như một vết mực đổ. Đá trắng ở đó lác đác, lọt thỏm. Quanh giếng Cây Si, đá trắng gần hết, chỉ có bốn viên xỉ đen. Quanh giếng Ngõ Thợ Nhuộm, hai viên. Quanh cái bể nước mưa của đình, chỉ có một viên.
Nàng đếm lại. Bảy mươi mốt nhà uống giếng Đá Ong, ba mươi mốt nhà có người ốm. Chín mươi nhà uống giếng Cây Si, bốn nhà ốm. Sáu mươi hai nhà uống giếng Ngõ Thợ Nhuộm, hai nhà. Bốn mươi nhà uống nước bể đình và nước sông, một nhà ốm, mà người ốm trong nhà ấy làm thuê cho một lò vôi cạnh giếng Đá Ong, trưa nào cũng uống nước ở đấy.
Thằng Cò đứng cạnh nàng, ngó xuống sân, há miệng.
– Chị ơi, cái đống đen kia là xóm Đá Ong đấy.
– Ừ.
– Thế là tại cái giếng à?
– Chị không biết. – Ngải nói. – Chị chỉ biết nó nằm ở đấy.
– Bày trò gì thế này?
Viện sứ Khâu đứng ở cổng đình, sau lưng là hai y chính và lão trưởng phường. Ông xuống phường xem xét lần đầu tiên từ ngày dịch, áo quan sạch bong, tay áo dài chấm đầu ngón, một chiếc khăn lụa tẩm dầu thơm che ngang mũi. Ông nhìn cái sân đầy sỏi đá, nhìn bốn cái bát sành úp, rồi nhìn Ngải đứng trên thềm.
– Lang vườn xuống phường nghèo không lo chữa bệnh, ngồi xếp sỏi chơi.
Ngải xuống thềm, cúi chào. Nàng giải thích: đá trắng là nhà không ai ốm, xỉ đen là nhà có người ốm, bát úp là giếng. Đám đen dồn quanh giếng Đá Ong.
Khâu nghe hết, không ngắt lời. Rồi ông bỏ khăn xuống khỏi mũi, chỉ tay về phía cống Lá.
– Giếng Đá Ong nằm sát cống Lá. Cống Lá là chỗ uế trọc, tà khí bốc lên, mùa nóng thì thấp nhiệt sinh dịch. Nhà gần cống thì ốm. Sách nói thế từ ngàn năm. Chuyện ấy chẳng cần xếp sỏi mới biết. Nước giếng thì dính gì tà khí?
– Bẩm Viện sứ, nhà gần cống Lá mà uống giếng Cây Si thì không ốm. – Ngải chỉ xuống một dãy đá trắng ở mép sân, dọc theo đường vạch cống Lá. – Dãy này sát cống hơn cả xóm Đá Ong. Mà nhà ở xa cống, tận đầu ngõ này, uống giếng Đá Ong, thì ốm.
Khâu nhìn xuống dãy đá trắng. Ông nhìn khá lâu. Rồi ông phẩy tay.
– Ngẫu nhiên. Đếm vài trăm nhà, xếp vài nắm sỏi, rồi bảo là hiểu dịch. Thái y viện không chữa bệnh bằng trò chơi con nít. – Ông quay sang hai y chính. – Phát thêm thang thuốc cho xóm Đá Ong. Nhà gần cống thì đốt bồ kết, đốt ngải xua uế khí.
Ông quay lưng đi. Hai y chính theo sau. Lão trưởng phường lạch bạch chạy theo, ngoái lại liếc Ngải một cái đầy thương hại.
Ngải đứng giữa sân sỏi. Nàng không thấy giận. Nàng chỉ thấy mệt, như hôm ở phủ Phù Vân.
Có tiếng chân bước vào từ cửa bên của đình. Nàng quay lại. Hàn Kỳ đứng đó, không biết đã đứng từ bao giờ. Anh không nhìn nàng. Anh nhìn xuống sân.
Anh đi một vòng quanh sân, chậm, như đi kiểm ngục, mắt dò từng viên sỏi. Đến chỗ giếng Đá Ong, anh dừng lại, cúi xuống, nhặt lên một viên xỉ đen, xoay xoay trong tay, rồi đặt lại đúng chỗ cũ. Đến chỗ dãy đá trắng sát cống Lá, anh dừng lại lâu hơn.
– Nhà này. – Anh chỉ một viên đá trắng ở góc. – Nhà ông Bảy lò vôi?
– Dạ phải. – Thằng Cò nhanh nhảu. – Nhà ông ấy uống giếng Cây Si, không ai ốm. Mà ông ấy ở sát cống nhất phường.
– Còn nhà này? – Anh chỉ một viên xỉ đen ở mép bể nước mưa.
– Nhà bà Năm, con trai bà làm thuê lò vôi cạnh giếng Đá Ong. – Ngải nói. – Nhà uống nước bể đình. Chỉ có con trai bà ốm. Trưa nào anh ta cũng uống nước ở giếng Đá Ong.
Hàn Kỳ đứng thẳng dậy. Ngón cái miết lên ngón giữa.
– Ba mươi mốt trên bảy mươi mốt. – Anh nói. – Bốn trên chín mươi. Hai trên sáu mươi hai. Một trên bốn mươi, mà người ấy cũng uống giếng Đá Ong.
Ngải nhìn anh. Nàng chưa đọc những con số ấy cho ai nghe.
– Thiếu khanh đếm sỏi à?
– Ta đếm từ lúc cô đặt viên thứ một trăm. – Anh nói. – Ta đứng ở cửa bên hai buổi chiều rồi.
Anh quay sang lão trưởng phường vừa từ cổng thở hồng hộc chạy vào.
– Trưởng phường. Đóng giếng Đá Ong mười ngày. Niêm phong lại, có dấu của ta. Thuê người gánh nước sông từ bến trên, chỗ thượng nguồn, không lấy ở bến dưới gần cống. Mỗi gánh ba đồng, tiền của triều đình. Mỗi ngày phát nước cho xóm Đá Ong đủ ăn uống. Bảo dân trong phường, nước gì cũng phải đun sôi rồi mới uống, mới nấu. Nhà nào không có củi thì lấy củi ở kho phường.
Lão trưởng phường há hốc miệng.
– Bẩm… đóng giếng? Cả xóm uống giếng ấy bao đời…
– Mười ngày. – Hàn Kỳ nói. – Mười ngày sau, nếu xóm Đá Ong không bớt người ốm, ta mở giếng, ta chịu tội với Viện sứ. Nếu bớt, thì cô Nghiêm đúng.
Lão trưởng phường lạch bạch chạy đi.
Chiều hôm ấy, khi lính dán tờ niêm phong có dấu đỏ lên tấm ván gỗ đậy miệng giếng Đá Ong, cả xóm kéo ra xem. Người đứng chật sân giếng, ồn ào như họp chợ. Một người đàn bà béo, tóc búi củ hành, tay chống nạnh, đứng ngay trước cái giếng, giọng chua như dấm:
– Đóng giếng? Đóng giếng thì tôi lấy nước đâu nấu cháo? Gánh nước sông ba đồng một gánh, ai trả? Bát cháo hến tôi bán có bốn đồng, các ông bắt tôi bán năm đồng à? Ai mua?
– Bà Tư Hến. – Thằng Cò thì thầm vào tai Ngải. – Bán cháo hến ở bến. Mồm to nhất phường.
– Nước gánh về không mất tiền, bà Tư. – Ngải nói. – Triều đình trả.
Bà Tư Hến quay sang nhìn nàng, mắt nhỏ ti hí trong khuôn mặt tròn núng nính.
– À, con bé xếp sỏi. – Bà nói. – Cả phường đồn rồi. Mày bảo giếng có ma à?
– Cháu không bảo có ma. Cháu bảo nhà nào uống giếng này thì nhiều người ốm.
– Tao uống giếng này năm mươi năm, tao có chết đâu!
Cả đám đông ồ lên đồng tình. Lính đứng chặn trước giếng, gậy ngang ngực. Hàn Kỳ không ra mặt. Mặt trời lặn. Đám đông tản dần, vừa đi vừa chửi.
Sáng hôm sau, mười ba tháng Tư, Ngải dậy sớm đi về phía xóm Đá Ong. Đến đầu ngõ, nàng nghe tiếng ồn ào. Nàng chạy vào sân giếng.
Tấm ván đậy miệng giếng bị lật nghiêng sang một bên. Tờ niêm phong có dấu đỏ bị xé làm đôi, một nửa vắt trên thành giếng đá ong, một nửa nằm dưới đất, dính một vết bùn hình bàn chân trần. Dây gàu buông thõng xuống lòng giếng, còn ướt.
— Hết chương 11 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe