Chương 17: Mứt quất
– Con còn giữ. – Ngải nói. – Dưới phản của con ở Nữ y sở. Con chưa mở ra trước mặt ai.
Cha nàng nhìn nàng thêm một lúc, như để chắc rằng nàng không nói dối. Rồi bàn tay ông lỏng dần, buông cổ tay nàng ra. Ông nằm ngửa, nhìn lên trần kho, nơi ánh trăng hắt những vạch sáng xiên qua chấn song cửa sổ.
– Sư huynh đến đây phải không? – Ông hỏi. – Cha thấy sư huynh. Hay cha mơ?
– Sư bá đến sáng hôm kia. Sư bá ngồi với cha rất lâu.
– Sư bá. – Ông lặp lại, và khóe miệng ông nhếch lên một chút, như một nụ cười rất cũ. – Con gọi sư huynh là sư bá. Ừ. Phải rồi.
Ông im lặng một lúc. Ngải đỡ đầu ông lên, cho ông uống mấy thìa nước. Ông uống, rồi đẩy cái thìa ra.
– Sư huynh kể cho con rồi?
– Sư bá kể cha tên thật là Liêu Thanh. Cha là học trò thầy Đồng Khải. Năm Hoằng Khánh thứ năm, cha bưng bát thuốc cho Thục phi. Thục phi mất. Thầy Đồng bị xử. Cha trốn. – Nàng ngừng lại. – Sư bá mở cửa vườn cho cha trốn.
– Ừ. – Cha nàng nói. – Sư huynh mở cửa.
Ông nhắm mắt lại. Ngải tưởng ông lại thiếp đi. Nhưng một lúc sau ông nói tiếp, giọng khàn, chậm, đứt quãng, mỗi câu phải dừng lại thở.
– Con biết sư huynh kể thiếu cái gì không?
– Cái gì ạ?
– Cái bát.
Ngoài sân có tiếng lão Đàm ho khan trong phòng canh. Rồi im.
– Mùa đông năm ấy, Thục phi ho lâu. – Cha nàng nói. – Ho từ cuối tháng Tám sang tháng Mười. Các Ngự y Kinh phương chữa gần hai tháng không đỡ. Hoàng thượng giao thầy Đồng. Thầy bắt mạch, kê một thang thuốc ho, toàn vị thường. Cha còn nhớ từng vị. Thầy dặn cha tự tay sắc ở Ngự dược phòng, tự tay bưng sang, không cho ai đụng vào.
– Thục phi uống bằng cái bát ấy?
– Ừ. – Ông nói. – Cái bát men ngọc sứt miệng. Ngự dược phòng có hàng chục cái bát như thế, cái nào cũng lành lặn. Thục phi không chịu. Bà bảo cái bát sứt ấy là bát bà uống thuốc từ hồi mới vào cung, mới được phong, uống bằng nó thì thấy yên. Bà ấy… bà ấy là người như thế. Nhớ những thứ nhỏ.
Ông ngừng lại, thở. Ngải nhìn mặt ông dưới ánh trăng. Nàng chưa từng nghe ông nói nhiều như thế về một người nào ngoài mẹ nàng.
– Ngày mười chín tháng Mười, giờ Thân. – Ông nói. – Cha bưng bát thuốc sang cung Thục phi. Theo lệ, học trò thầy thuốc đàn ông không được nhìn mặt phi tần, phải cúi đầu, quỳ ngoài rèm, đưa bát qua tay cung nữ. Cha cúi đầu. Cung nữ đỡ bát vào trong. Cha nghe Thục phi uống. Nghe bà chê đắng. Bà cười, bảo thuốc thầy Đồng lần nào cũng đắng hơn thuốc Kinh phương, nhưng lần nào cũng đỡ hơn.
Ông lại ngừng. Lần này lâu hơn.
– Rồi cha nghe bà cung nữ nói, bẩm nương nương, thầy thuốc dặn uống xong ngậm một miếng mứt quất cho đỡ đắng, mứt đây. – Cha nàng nói. – Cha nghe tiếng nắp lọ sứ mở. Cha ngẩng lên. Cha không được ngẩng, nhưng cha ngẩng. Vì thầy Đồng không dặn thế. Thầy chưa bao giờ dặn ai ăn ngọt sau thuốc ho. Thầy bảo ngọt làm đờm đặc lại.
– Cha thấy gì?
– Cha thấy qua khe rèm một bàn tay. Bàn tay bà cung nữ, cầm cái lọ sứ nhỏ men xanh, nắp tròn có cái núm như quả quất. Bàn tay ấy đưa miếng mứt cho Thục phi. Ở cổ tay trái có một nốt ruồi son. Đỏ. To bằng hạt đậu xanh. – Ông nhắm mắt. – Mười bảy năm, cha không nhớ được mặt bà ấy, vì cha không thấy mặt. Cha chỉ nhớ cái nốt ruồi ấy.
Ngải ngồi im. Tim nàng đập chậm lại, nặng nề, như tiếng chày giã thuốc.
– Cha không nói gì. – Ông nói. – Cha nghĩ thầy đổi ý, dặn thêm mà cha không biết. Cha là học trò, thầy bảo gì thì làm nấy. Cha cầm cái khay không, về Ngự dược phòng. Cái bát để lại trong cung, cung nữ sẽ mang trả sau.
– Rồi…
– Chưa đầy một canh giờ. – Ông nói. – Cả cung nhốn nháo. Người ta chạy sang Viện gọi thầy Đồng. Thầy chạy. Cha chạy theo. Đến nơi thì Thục phi đã… – Ông không nói hết. – Giờ Dậu thì bà đi. Hai mươi sáu tuổi.
Ngải cầm lấy bàn tay ông. Nó lạnh dần.
– Lúc ấy mọi người khóc, chạy ngược chạy xuôi, các Ngự y, các thái giám, các cung nữ. – Ông nói. – Cha đứng ở góc phòng, run không đứng được. Thầy Đồng thì không khóc, không chạy. Thầy đi thẳng đến cái bàn con đặt cạnh giường, nơi cái bát thuốc vẫn nằm đó. Thầy cầm cái bát lên, nghiêng nó ra chỗ có đèn, nhìn vào đáy. Nhìn rất lâu. Rồi thầy cúi xuống ngửi. Rồi thầy nhìn quanh mặt bàn, như tìm cái gì. Thầy tìm cái lọ mứt. Cha biết thầy tìm cái lọ mứt, vì cha cũng tìm. Lọ mứt không còn ở đấy.
– Ai lấy?
– Cha không biết. Lúc ấy người ra vào nhiều quá. – Ông nói. – Thầy Đồng quay lại, thấy cha đứng ở góc phòng. Thầy đi đến, rút cái khăn tay trong ống áo ra, bọc cái bát lại, dúi vào tay cha. Thầy nói thật nhỏ, chỉ cha nghe thấy. Thầy nói: Thanh, giữ lấy. Đừng rửa. Đây là đáy bát của ta.
Ông thở dốc. Ngải đổ thêm nước vào thìa, kề lên môi ông. Ông lắc đầu.
– Thầy nói thêm một câu. Thầy nói: chạy đi. Họ sẽ bắt ta. Nếu con còn ở đây, họ sẽ bắt con, và cái bát này sẽ bị đập vỡ. Chạy đi, đừng quay lại, đến khi nào có người muốn biết sự thật.
Ông nhìn nàng.
– Đến khi nào có người muốn biết sự thật. – Ông lặp lại. – Mười bảy năm, cha chờ người ấy.
– Cha trốn bằng cửa vườn thuốc.
– Ừ. Đêm ấy sư huynh mở cửa ngách. Cha trèo tường ngoài, ngã gãy chân. Cha lết về nhà ngoại con ở xóm Bãi Dâu ngoài cửa Tây, bọc chân bằng hai thanh nẹp tre, rồi hai vợ chồng bế con đi trong đêm. Con hai tuổi, ngủ suốt đường. Đi đò, đi bộ, xin ngủ nhờ chùa, đi mất một tháng. Đến Vũng Cói thì dừng, vì mẹ con bảo không đi nổi nữa. Cha lấy họ của bà nội con, họ Nghiêm. Cha cất cái bát dưới gầm chạn. Cha không rửa.
– Cái cặn trong đáy bát… – Ngải nói. – Là thuốc gì?
– Là thang thuốc ho của thầy Đồng. – Ông nói. – Đúng từng ấy vị, không thêm vị nào. Mười bảy năm, cha nhìn cái cặn ấy không biết bao nhiêu lần. Cha thuộc từng hạt. Nếu có ai sắc lại đúng đơn của thầy, để khô trong một cái bát như thế, thì cặn sẽ giống hệt. Đơn của thầy, chắc vẫn còn lưu trong kho sổ của Viện, vì Viện lưu mọi đơn dâng cho phi tần. Cái bát chứng rằng thuốc sạch. Độc không nằm trong thuốc. Độc nằm trong cái miếng ngọt người ta đưa sau thuốc.
Ngải không nói được gì.
Đắng xong thì ngậm ngọt.
Miệng bát của cậu Toàn dính tay, se se, kéo thành sợi mảnh. Kiến bò thành hàng.
– Cha. – Nàng nói. – Cậu Toàn…
– Cha biết. – Ông nói. – Từ sáng hôm ấy, khi con nói chuyện kiến ở nhà lý trưởng, cha đã biết. Cũng là cái cách ấy. Cho bệnh nhân uống thuốc của thầy thuốc, rồi đưa thêm một miếng ngọt. Người ta chết, người ta đổ cho thuốc. Ai lại đi nghi miếng ngọt.
– Sao cha không nói ở công đường?
– Nói gì? – Ông nhìn nàng. – Nói cha là Liêu Thanh, tử tội năm Hoằng Khánh thứ năm, đã thấy cái cách này một lần ở trong cung? Nói thế thì cha chết ngay, không cần thu thẩm. Mà con cũng không yên.
Ngải cúi đầu. Nước mắt nàng rơi xuống mu bàn tay ông.
– Còn một chuyện. – Cha nàng nói, giọng nhỏ đi. – Cha phải nói với con. Cha ngu.
– Cha…
– Mùa thu năm ngoái, có một người buôn thuốc đến hỏi cha. Hắn bảo có một người quyền quý trong kinh muốn tìm thầy thuốc già nào biết chuyện năm Hoằng Khánh thứ năm. Hắn không nói là ai. Cha nghĩ ba tháng. Cha nghĩ đến thầy Đồng, đến câu thầy dặn. Đến khi nào có người muốn biết sự thật. Tháng Chạp, cha viết một lá thư. Cha viết cha là Liêu Thanh, cha còn sống, cha có giữ một vật chứng, cha xin được gặp người muốn biết. Cha đưa thư cho người buôn thuốc ấy.
– Phương Tứ.
– Ừ. Phương Tứ.
Ngải nhắm mắt lại.
Có một người, ở một phủ phía nam, bảo có vật làm tin. Rồi im bặt.
Lá thư ấy không bao giờ đến tay Khang vương. Nó đến tay một người khác. Một tháng sau, Phương Tứ về Vũng Cói, ngủ ở nhà lý trưởng, cười to ở gian giữa. Và cậu Toàn, mười bảy tuổi, hai cái răng khểnh, chết sau hai bát thuốc đắng.
– Cha không biết lá thư đến tay ai. – Cha nàng nói. – Phương Tứ giao hàng cho cả Viện. Ai cũng có thể. – Ông ngừng lại. – Người tốt với con nhất, con càng phải coi chừng. Cha nói thế, vì cha không biết ai.
– Cha nghi ai?
– Cha không nghi ai cả. – Ông nói, và giọng ông mệt mỏi đến tận cùng. – Mười bảy năm, cha nghi tất cả mọi người, rồi cha thôi nghi, vì nghi mãi thì không sống được. Cha chỉ biết hai điều. Cái bát. Và cái nốt ruồi son.
Trăng đã ngả về tây. Vạch sáng trên nền kho dài ra, nhạt dần. Ở góc kho bên kia, một người bệnh trở mình, rên khẽ.
Cha nàng nhắm mắt lại. Hơi thở ông đều dần. Ngải ngồi bên ông, tay vẫn cầm bàn tay gầy guộc ấy, mắt nhìn vào bóng tối.
Bàn tay bà cung nữ, cầm cái lọ sứ nhỏ men xanh, nắp tròn có cái núm như quả quất.
Nàng thấy lại gian nhà phía tây hôm thi, bà già áo nâu ngồi sau cái bàn thấp, nghe tên nàng thì ngòi bút dừng lại. Nàng thấy bà đặt bút xuống, xoay cổ tay trái như người mỏi tay, rồi mới cầm bút lên viết. Nàng thấy bà Quản Lương mùa hè cũng mặc áo tay dài chấm đốt ngón tay, thấy bà mỗi lần rửa tay đều kéo ống tay áo trái xuống trước khi người khác kịp nhìn.
Và nàng thấy cái miếu nhỏ mái rêu sau lùm trúc, nơi tháng nào bà Quản cũng ra thắp hương một lần, vào ngày mười chín.
— Hết chương 17 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe